CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM

Câu lạc bộ luật tài chính ngân hàng chứng khoán - Khoa kinh tế -luật- đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
 
Trang ChínhPortalTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
Tin Tức Pháp Luật

quanlymoitruongBáo thanh niên
quanlymoitruongUỷ ban chứng khoán nhà nước
quanlymoitruongTất cả văn bản pháp luật
quanlymoitruongLớp luật kinh doanh khoá 05
quanlymoitruongKhoa kinh tế - luật - ĐHQG.TPHCM
quanlymoitruongcảm xúc chưa đặt tên
quanlymoitruongcâu chuyện Valen...
quanlymoitruongchỉ có 1 cuộc điện
quanlymoitruongchiếc khăn tay
quanlymoitruongdanh ngôn tình yêu
quanlymoitruongduyên nợ
quanlymoitruongiu người chưa hề biết
quanlymoitruongKhi nào ấy nhớ đây
quanlymoitruonglàm sao cho ai kia hiểu
quanlymoitruonglời khuyên tình yêu
quanlymoitruonglời hẹn ước
quanlymoitruongmat tinh yeu
quanlymoitruongmón quà giáng sinh
quanlymoitruongmưa bằng lăng
quanlymoitruongmưa tình bạn
quanlymoitruongngày anh nói i love u
quanlymoitruongngày nhớ đêm mong
quanlymoitruongnhìn kìa anh iu
quanlymoitruongnơi đâu là...?
quanlymoitruongtâm lý bạn trai
quanlymoitruongtâm lý bạn gái
quanlymoitruongTấm cám 1
quanlymoitruongTấm cám 2
quanlymoitruongThơ tình
quanlymoitruongthông điệp tình yêu
quanlymoitruongthư tình
quanlymoitruongtìm kiếm tình yêu
quanlymoitruongtình yêu không lời
quanlymoitruongtình yêu tuổi mới lớn
quanlymoitruongtình yêu
quanlymoitruongtrong tình yêu


Tin Tức Chứng Khoán
  • Bảng giao dịch trực truyến HASTC
  • Hỗ Trợ Trực Tuyến
    Admin
    Chát với admin
    lienhe Liên Hệ

     
    Hỗ trợ kỹ thuật 1
    lienhe
    Hỗ trợ kỹ thuật 2
     Hỗ trợ kỹ thuật 2

    lienheHỗ trợ kỹ thuật 3   
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 3
    lienheHỗ trợ kỹ thuật 4
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 4
    Số lần truy cập

    visitor analysis


    Share | 
     

     HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) phần 2

    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
    Tác giảThông điệp
    Linhprince

    avatar

    Tổng số bài gửi : 50
    Join date : 20/09/2010
    Age : 30
    Đến từ : Ha Noi

    Bài gửiTiêu đề: HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) phần 2   Tue Sep 21, 2010 7:42 pm

    Điểm 1(b)

    1. Nếu việc bán hàng và giá cả phải phụ thuộc vào một số điều kiện hoặc lý domà vì thế không thể xác định được trị giá của hàng hóa đang được định giá đó, thì trị giá giao dịch sẽ không được chấp nhận cho mục đích thuế quan. Thí dụ:

    (a) người bán định giá hàng hóa nhập khẩu với điều kiện người mua phải mua kèm các hàng hóa khác với một số lượng nhất định;

    (b) giá của hàng hóa nhập khẩu phụ thuộc vào mức giá hoặc các mức giá mà người mua hàng hóa nhập khẩu đó bán các loại hàng khác cho người bán hàng hóa nhập khẩu đó;

    (c) giá được định ra trên cơ sở một hình thức thanh toán không liên quan tới hàng hóa nhập khẩu, chẳng hạn như khi hàng hóa nhập khẩu là bán thành phẩm do người bán cung cấp với điều kiện người bán sẽ nhận được một số lượng nhất định hàng thành phẩm.

    2. Tuy nhiên, các điều kiện hoặc suy xét liên quan đến sản xuất và tiếp thị của hàng hóa nhập khẩu sẽ không dẫn tới từ chối việc áp dụng trị giá giao dịch. Thí dụ, việc người mua cung cấp cho người bán các dịch vụ kỹ thuật và bản thiết kế/kế hoạch tiến hành tại nước nhập khẩu không được coi là lý do để từ chối việc áp dụng trị giá giao dịch cho các mục đích của Điều 1. Tương tự như vậy, nếu người mua tự tiến hành các hoạt động liên quan đến tiếp thị hàng hóa nhập khẩu, vì lợi ích của chính mình, dù rằng theo thoả thuận với người bán, trị giá của các hoạt động này không phải là một phần của giá trị thuế quan hay bị coi là lý do để bác bỏ trị giá giao dịch.

    Khoản 2

    1. Các điểm 2(a) và 2(b) quy định các phương pháp khác nhau để xác định một giá trị giao dịch có được chấp nhận hay không.

    2. Điểm 2(a) quy định rằng khi người bán và người mua có liên hệ, thì các yếu tố xung quanh việc bán hàng cần phải xem xét và trị giá giao dịch sẽ được chấp nhận là trị giá thuế quan, với điều kiện là mối liên hệ này không ảnh hưởng tới giá cả. Điều này không có nghĩa là cần phải thẩm tra các yếu tố trên trong mọi trường hợp khi người bán và người mua có liên hệ. Việc thẩm tra như vậy chỉ được yêu cầu khi có sự nghi ngờ về tính hợp lý của giá cả. Khi cơ quan hải quan không có gì nghi ngờ về tính hợp lý của giá cả, thì trị giá đó phải được chấp nhận mà không đòi hỏi thêm thông tin từ phía nhà nhập khẩu. Thí dụ: cơ quan hải quan trước đó có thể đã thẩm tra về liên hệ giữa người bán và người mua hoặc đã có các thông tin chi tiết về mối liên hệ, và từ việc thẩm tra và các thông tin này, cơ quan hải quan có thể hài lòng kết luận rằng mối liên hệ này không ảnh hưởng đến giá cả.

    3. Khi cơ quan hải quan không thể chấp nhận trị giá giao dịch mà không tiến hành thẩm tra thêm, thì họ cần phải cho người nhập khẩu một cơ hội để cung cấp thêm các thông tin cần thiết cho phép xem xét hoàn cảnh xung quanh việc bán hàng. Trong trường hợp này, cơ quan hải quan cần phải sẵn sàng để xem xét các yếu tố có liên quan tới giao dịch này, bao gồm cách thức mà người bán và người mua tổ chức hoạt động thương mại của họ và cách thức đi đến giá cả đó, để xác định liệu quan hệ đó có ảnh hưởng đến giá cả hay không. Khi chứng minh được rằng, người bán và người mua, mặc dù có liên hệ với nhau theo các qui định của Điều 15, nhưng mua bán với nhau như là những người không có liên hệ, thì chứng tỏ rằng giá cả đó đã không bị ảnh hưởng bởi mối liên hệ giữa hai bên. Thí dụ: Nếu giá cả đã được thanh toán một cách phù hợp với các thông lệ định giá thông thường của ngành công nghiệp đó hoặc theo cách mà người bán định giá bán hàng cho những người mua không có liên quan với người bán, thì điều đó chứng tỏ rằng giá cả của hàng hóa đó không bị ảnh hưởng của mối liên hệ giữa hai bên. Một thí dụ nữa là: khi thấy rằng giá hàng đủ để thu hồi tất cả các chi phí sản xuất và ngoài ra còn có thêm một khoản lợi nhuận, đại diện cho tổng lợi nhuận mà công ty đạt được trong một khoảng thời gian (thí dụ: trên cơ sở hàng năm), trên doanh thu bán các loại hàng hóa cùng chủng loại và phẩm cấp, thì điều đó chứng tỏ rằng giá cả của hàng hóa đó không bị ảnh hưởng của mối liên hệ giữa hai bên.

    4. Điểm 2(b) cho phép người nhập khẩu có cơ hội chứng tỏ rằng trị giá giao dịch là rất sát với trị giá “kiểm tra” mà cơ quan hải quan trước đó đã chấp nhận và do đó là chấp nhận được theo các quy định của Điều 1. Khi việc kiểm tra theo điểm 2(b) đã được đáp ứng, thì không cần thiết phải xem xét về sự ảnh hưởng theo điểm 2(a). Nếu cơ quan hải quan đã có đầy đủ các thông tin cần thiết để hài lòng rằng một trong các yêu cầu thẩm tra theo quy định trong điểm 2(b) đã được thoả mãn, mà không cần có thêm yêu cầu chi tiết gì nữa, thì không có lý do gì để yêu cầu người nhập khẩu chứng minh rằng có thể đáp ứng yêu cầu kiểm tra. Theo điểm 2(b), thuật ngữ “người mua không có liên hệ” có nghĩa là người mua không có liên hệ gì với người bán trong bất kỳ một trường hợp cụ thể nào.

    Điểm 2(b)

    Một số yếu tố cần phải được cân nhắc khi xác định một trị giá có "rất sát" với một trị giá khác hay không. Các yếu tố này bao gồm tính chất của hàng hóa nhập khẩu, tính chất của chính ngành sản xuất, thời vụ nhập khẩu hàng hóa và nếu sự khác nhau về trị giá có ý nghĩa thương mại quan trọng. Vì các yếu tố này có thể khác nhau tuỳ theo từng trường hợp, nên không thể áp dụng một tiêu chuẩn thống nhất, chẳng hạn như một tỷ lệ phần trăm cố định, trong mọi trường hợp. Thí dụ, khi xác định liệu trị giá giao dịch có sát với giá trị “kiểm tra/kiểm nghiệm” nêu tại điểm 2(b) Điều 1 thì một sự chênh lệch nhỏ về trị giá trong một trường hợp nào đó liên quan đến một loại hàng hóa nào đó có thể không được chấp nhận, trong khi đó một sự chênh lệch lớn trong một trường hợp khác liên quan đến một loại hàng hóa khác thì lại có thể chấp nhận được.

    Chú thích Điều 2

    1. Khi áp dụng Điều 2, cơ quan hải quan cần phải, khi có thể, sử dụng hàng hóa giống hệt được bán với cùng một cấp lưu thông, và về căn bản cùng một số lượng như hàng hóa đang được định giá. Khi không tìm được việc bán hàng như vậy, việc bán hàng giống hệt theo bất kỳ một trong ba điều kiện sau đây có thể được sử dụng:

    (a) bán hàng cùng một cấp độ lưu thông nhưng khác về số lượng;

    (b) bán hàng khác cấp độ lưu thông nhưng về căn bản cùng một số lượng; hoặc

    (c) bán hàng khác cấp độ lưu thông và khác số lượng.

    2. Nếu hàng hóa được bán theo một trong ba điều kiện trên thì tuỳ từng trường hợp sẽ cho phép điều chỉnh đối với:

    (a) chỉ với các hệ số về số lượng;

    (b) chỉ với các hệ số về cấp lưu thông; hoặc

    (c) cả hai hệ số cấp lưu thông và số lượng.

    3. Cách diễn đạt “và/hoặc” cho phép sự linh hoạt trong sử dụng việc bán hàng và điều chỉnh nếu cần thiết khi gặp phải một trong 3 trường hợp nói trên.

    4. Theo Điều 2, trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giống hệt là trị giá thuế quan, đã được điều chỉnh theo điểm1(b) và 2, mà trước đó đã được chấp nhận theo Điều 1.

    5. Việc điều chỉnh, do có sự khác nhau về cấp lưu thông hoặc số lượng được cho phép với điều kiện những điều chỉnh như vậy, cho dù có thể dẫn đến tăng hay giảm trị giá, là dựa trên cơ sở các bằng chứng đã được đưa ra giải thích một cách rõ ràng về tính hợp lý, và tính chính xác của các điều chỉnh này, chẳng hạn các bảng giá có giá trị hợp lệ phải bao gồm các mức giá cả khác nhau cho từng cấp lưu thông hoặc từng mức số lượng khác nhau. Thí dụ: Nếu hàng nhập khẩu đang được định giá là một chuyến hàng gồm 10 đơn vị và hàng hóa nhập khẩu giống hệt mà chỉ tồn tại một trị giá giao dịch với 500 đơn vị, và được biết người bán có dành cho người mua một khoản chiết khấu tính trên số lượng, thì có thể điều chỉnh bằng cách sử dụng bảng giá của người bán và áp dụng mức giá dành cho hợp đồng với số lượng 10 đơn vị hàng hóa. Việc áp dụng này không đòi hỏi phải bán theo từng lô 10 đơn vị, miễn là bảng giá này được lập ra một cách trung thực, thông qua việc bán hàng với số lượng khác. Tuy nhiên, trong trường hợp không có được một sự đánh giá/phương pháp khách quan như trên thì việc xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 2 là không phù hợp.

    Chú thích Điều 3

    1. Khi áp dụng Điều 3, cơ quan hải quan cần phải, khi có thể, sử dụng việc bán các hàng hóa tương tự tại cùng một cấp lưu thông và về cơ bản cùng một số lượng như hàng hóa đang được định giá. Khi không tìm được hàng hóa như vậy, thì có thể được sử dụng việc bán các hàng hóa tương tự được tiến hành dưới một trong các điều kiện sau:

    (a) bán hàng cùng một cấp độ lưu thông nhưng khác về số lượng;

    (b) bán hàng khác cấp độ lưu thông nhưng về căn bản với cùng một số lượng; hoặc

    (c) bán hàng khác cấp độ lưu thông và khác số lượng.

    2. Nếu hàng hóa được bán theo một trong ba điều kiện trên thì tuỳ từng trường hợp sẽ cho phép điều chỉnh:

    (a) chỉ với các hệ số về số lượng;

    (b) chỉ với các hệ số về cấp lưu thông; hoặc

    (c) cả hai hệ số cấp lưu thông và số lượng.

    3. Cách diễn đạt “và/hoặc” cho phép sự linh hoạt trong sử dụng việc bán hàng và điều chỉnh nếu cần thiết, khi gặp phải một trong 3 trường hợp nói trên.

    4. Theo Điều 3, trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự là trị giá thuế quan, đã được điều chỉnh theo điểm 1(b) và 2, mà trước đó đã được chấp nhận theo Điều 1.

    5. Việc điều chỉnh, do có sự khác nhau về cấp lưu thông hoặc số lượng, được cho phép với điều kiện những điều chỉnh như vậy, cho dù có thể dẫn đến tăng hay giảm trị giá, là phải dựa trên cơ sở các bằng chứng đã được đưa ra, giải thích một cách rõ ràng tính hợp lý và tính chính xác của các điều chỉnh này. Thí dụ: các bảng giá có giá trị hợp lệ phải bao gồm các mức giá cả khác nhau cho từng cấp lưu thông hoặc từng mức số lượng khác nhau. Thí dụ: Nếu hàng nhập khẩu đang được định giá là một chuyến hàng gồm 10 đơn vị hàng hóa và một hàng hóa nhập khẩu tương tự duy nhất mà chỉ tồn tại một trị giá giao dịch với 500 đơn vị hàng hóa, và được biết người bán có dành cho người mua một khoản chiết khấu tính trên số lượng, thì có thể điều chỉnh bằng cách sử dụng bảng chào giá của người bán và áp dụng mức giá dành cho hợp đồng với số lượng 10 đơn vị hàng hóa.

    Việc áp dụng này không đòi hỏi phải bán theo từng lô 10 đơn vị, miễn là bảng giá này được lập ra một cách trung thực, thông qua việc bán hàng với số lượng khác, Tuy nhiên, trong trường hợp không có được một phương pháp khách quan như trên, thì việc xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều 3 là không phù hợp.

    Chú thích Điều 5

    1. Thuật ngữ "đơn giá mà ........ hàng hóa được bán với tổng số lượng lớn nhất" có nghĩa là mức giá mà một số lượng đơn vị hàng hóa lớn nhất được bán cho những người không có liên hệ với người mà họ đã mua hàng hóa đó tại cấp lưu thông đầu tiên sau khi hàng hóa ấy được nhập khẩu.

    2. Thí dụ : hàng hóa được bán theo một bảng giá có đơn giá dành ưu đãi cho việc mua hàng với khối lượng lớn:

    Số lượng bán Đơn giá Số lần bán hàng Số lượng hàng hóa đã bán được
    1-10 đơn vị


    11-25 đơn vị

    hơn 25 đơn vị


    100


    95

    90 10 lần mỗi lần 5 đơn vị
    5 lần mỗi lần 3 đơn vị

    5 lần mỗi lần 11 đơn vị

    1 lần mỗi lần 30 đơn vị
    1 lần mỗi lần 50 đơn vị 65


    55

    80



    Số lượng đơn vị hàng hóa lớn nhất bán được tại một mức giá là 80, do đó đơn giá mà hàng hóa được bán với tổng số lượng lớn nhất là 90.

    3. Một thí dụ nữa là khi hai thương vụ diễn ra cùng lúc. Thương vụ thứ nhất bán 500 đơn vị hàng hóa với đơn giá 95 đơn vị tiền tệ. Trong thương vụ thứ hai là 400 đơn vị hàng hóa với đơn giá 90 đơn vị tiền tệ. Trong trường hợp này, thì số lượng đơn vị hàng hóa lớn nhất được bán tại một mức giá cụ thể nào đó là 500; do đó, đơn giá mà hàng hóa được bán với tổng số lượng lớn nhất là 95.


    4. Thí dụ thứ ba là trường hợp khi hàng được bán với những khối lượng khác nhau và với những mức giá khác nhau:




    (a) Bán

    Số lượng bán
    Đơn giá
    40 đơn vị
    30 đơn vị
    15 đơn vị
    50 đơn vị
    25 đơn vị
    35 đơn vị
    5 đơn vị 100
    90
    100
    95
    105
    90
    100

    (b) Tổng số

    Tổng số lượng bán ra Đơn giá

    65
    50
    60
    25 90
    95
    100
    105

    Trong thí dụ trên, số lượng đơn vị hàng hóa lớn nhất được bán với một đơn giá cụ thể là 65, do đó đơn giá mà hàng hóa được bán với tổng khối lượng lớn nhất là 90.


    5. Bất kỳ việc bán hàng nào tại nước nhập khẩu, như đã miêu tả trong khoản 1 nói trên, cho một người sẽ cung cấp trực tiếp hoặc gián tiếp bất kỳ một yếu tố nào quy định trong điểm 1(b) của Điều 8 cho người mua mà không lấy tiền hoặc với giá thấp, để sử dụng trong sản xuất và bán hàng nhằm xuất khẩu các hàng hóa nhập khẩu đó, đều không được tính đến khi xây dựng đơn giá phục vụ các mục đích của Điều 5.

    6. Cần chú ý rằng, "các khoản lợi nhuận và các chi phí chung" nói tại khoản 1 Điều 5 cần được xem xét trong một tổng thể. Số liệu sử dụng nhằm mục đích khấu trừ cần được xác định trên cơ sở thông tin người nhập khẩu hoặc người nhân danh người nhập khẩu cung cấp trừ khi số liệu của người nhập khẩu mâu thuẫn với số liệu có được qua việc bán hàng hóa nhập khẩu cùng phẩm cấp hoặc chủng loại tại nước nhập khẩu đó. Khi số liệu của người nhập khẩu mâu thuẫn với những số liệu trên, thì khoản lợi nhuận và các chi phí chung có thể dựa trên các thông tin liên quan khác ngoài các thông tin do người nhập khẩu hoặc người nhân danh nhập khẩu cung cấp.

    7. “Các chi phí chung” bao gồm các chi phí trực tiếp và gián tiếp cho hoạt động tiếp thị hàng hóa liên quan.

    8. Thuế nội địa, phải thanh toán do việc bán hàng hóa đó, mà chưa khấu trừ theo quy định tại điểm 1(a)(iv) Điều 5 thì sẽ được phép khấu trừ theo các quy định tại điểm 1(a)(i) Điều 5.

    9. Khi xác định hoặc là tiền hoa hồng hoặc là lợi nhuận thông thường và các chi phí chung theo quy định tại khoản 1 Điều 5, thì câu hỏi liệu những hàng hóa nào đó là “cùng phẩm cấp hoặc chủng loại” như các hàng hóa khác phải được xác định dựa trên cơ sở từng trường hợp, có tham khảo các tình huống có liên quan.

    Việc bán ở nước nhập khẩu trong phạm vi hẹp nhất các nhóm hoặc loại hàng nhập khẩu cùng phẩm cấp hoặc chủng loại, bao gồm cả hàng hóa đang được định giá mà từ đó có thể cho các thông tin cần thiết, cần phải được xem xét. Theo Điều 5, “hàng hóa cùng phẩm cấp và chủng loại” bao gồm hàng hóa nhập khẩu từ cùng một nước như hàng hóa đang được định giá, cũng như hàng hóa được nhập khẩu từ các nước khác.

    10. Theo điểm 1(b) Điều 5, ngày “sớm nhất” sẽ là ngày mà hàng hóa nhập khẩu đó hoặc hàng hóa giống hệt hoặc tương tự nhập khẩu được bán với một số lượng đủ để thiết lập đơn giá cho hàng hóa đó.

    11. Khi sử dụng phương pháp trong khoản 2 Điều 5, thì các khấu trừ cho trị giá gia tăng, do hàng hóa đã được qua chế biến thêm, phải dựa trên dữ liệu mang tính chất khách quan và có thể lượng hóa được liên quan đến chi phí của các hoạt động chế biến đó. Các công thức, hướng dẫn, phương pháp xây dựng, và các thông lệ khác của ngành đã được chấp nhận là cơ sở cho việc tính toán này.

    12. Được thừa nhận rằng phương pháp định giá quy định tại khoản 2 Điều 5 thường không được áp dụng trong trường hợp sau khi qua chế biến, hàng hóa nhập khẩu đó đã mất đặc tính riêng. Tuy nhiên, có những trường hợp mà mặc dù đặc tính riêng của hàng hóa nhập khẩu đã bị mất, nhưng trị giá gia tăng trong quá trình chế biến vẫn có thể xác định được một cách chính xác mà không gặp phải khó khăn bất hợp lý nào. Ngược lại, cũng có những trường hợp mà hàng hóa nhập khẩu vẫn duy trì được đặc tính riêng của nó nhưng lại tạo ra những yếu tố phụ trong hàng hóa được bán tại nước nhập khẩu tới mức độ mà việc sử dụng phương pháp định giá thuế quan này là không hợp lý. Trong trường hợp trên, thì các tình huống loại này phải được xem xét trên cơ sở từng trường hợp một.


    Chú thích Điều 6

    1. Theo quy tắc chung, trị giá thuế quan được xác định theo Hiệp định này trên cơ sở thông tin sẵn có tại nước nhập khẩu. Tuy nhiên, để xác định trị giá tính toán, có thể cần phải xem xét chi chí sản xuất hàng hóa đang được định giá đó và các thông tin khác có thể lấy được từ bên ngoài nước nhập khẩu. Thêm vào đó, trong phần lớn các trường hợp, người sản xuất hàng hóa đó không thuộc phạm vi của các cơ có thẩm quyền của nước nhập khẩu. Việc sử dụng phương pháp trị giá tính toán thường chỉ dành cho các trường hợp khi người bán và người mua có liên hệ và người sản xuất sẵn sàng cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu số liệu cần thiết về các chi phí và cung cấp các phương tiện giúp cho việc thẩm định giá sau này, nếu thấy cần thiết.

    2. "Chi phí và trị giá" đề cập tới tại điểm 1(a) Điều 6 sẽ dựa trên cơ sở thông tin liên quan đến việc sản xuất của hàng hóa đang được định giá, do người sản xuất hoặc đại diện của họ cung cấp. Các thông tin này dựa trên tài khoản thương mại của người sản xuất, với điều kiện là các tài khoản đó phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung áp dụng tại nước mà hàng hóa đó được sản xuất.

    3. "Chi phí và trị giá" phải bao gồm các yếu tố đã được cụ thể hóa tại điểm 1(a)(ii) và (iii) Điều 8. Nó cũng bao gồm các trị giá, phân bổ một cách phù hợp với các quy định có liên quan đến các giải thích cho Điều 8, của bất kỳ yếu tố nào được nêu ra trong điểm 1(b) của Điều 8 đã được trực tiếp hoặc gián tiếp dành cho người mua nhằm vào các mục đích sử dụng liên quan tới sản xuất hàng hóa nhập khẩu. Trị giá của các yếu tố, đã được chỉ rõ tại điểm 1(b)(iv) của Điều 8, được tiến hành ở nước nhập khẩu cần phải được tính vào, nhưng chỉ trong phạm vi các yếu tố do người sản xuất chịu mà thôi. Điều này được hiểu là không có chi phí hoặc trị giá nào của các yếu tố đã được đề cập đến trong khoản này sẽ được tính lại lần thứ hai khi xác định trị giá tính toán.

    4. "Lượng lợi nhuận và các chi phí chung" nêu tại điểm 1(b) Điều 6 sẽ được xác định dựa trên cơ sở thông tin do người sản xuất hoặc người thay mặt họ cung cấp trừ khi các số liệu của người sản xuất không nhất quán với các thông tin phản ánh việc bán hàng hóa cùng phẩm cấp, hoặc chủng loại như hàng hóa đang được định giá, sản xuất tại nước xuất khẩu nhằm xuất khẩu sang nước nhập khẩu.


    5. Cần phải lưu ý rằng trong ngữ cảnh này “lượng lợi nhuận và chi phí chung” phải được xem xét trong một tổng thể. Theo đó, nếu trong một trường hợp nào đó, trong khi số lợi nhuận của người sản xuất thấp, mà chi phí chung của người sản xuất lại cao, thì lợi nhuận và chi phí chung của nhà sản xuất xem xét trong một tổng thể nhưng lại có thể phù hợp với lợi nhuận và chi phí thường được phản ánh trong việc bán những hàng hóa cùng phẩm cấp hoặc chủng loại. Trường hợp trên có thể xảy ra, nếu một sản phẩm được giới thiệu tại nước nhập khẩu và người sản xuất chấp nhận lợi nhuận thấp hoặc bằng không để bù lại các chi phí chung cao liên quan đến việc giới thiệu sản phẩm đó. Khi người sản xuất có thể chứng minh được rằng việc lợi nhuận bán hàng thấp là do những hoàn cảnh thương mại cụ thể, thì số liệu về lợi nhuận thực sự do người sản xuất đưa ra cần phải được xem xét, với điều kiện người sản xuất có các lý lẽ thương mại hợp lý để chứng minh tính đúng đắn của các lập luận đó, và chính sách giá cả của người sản xuất phản ánh đúng những chính sách giá cả thông thường trong phân ngành liên quan. Thí dụ, trường hợp có thể xảy ra là khi người sản xuất bị buộc phải tạm thời hạ giá do nhu cầu giảm không lường trước được, hoặc khi họ bán hàng hóa đó để bổ sung cho một nhóm hàng hóa đang được sản xuất tại nước nhập khẩu và chấp nhận lợi nhuận thấp hoặc không có lãi để duy trì tính cạnh tranh. Khi số liệu của bản thân người sản xuất về lợi nhuận và các chi phí chung không nhất quán với các số liệu thường thấy khi bán các loại hàng hóa, có cùng phẩm cấp hoặc chủng loại như hàng hóa đang được định giá, được chế tạo bởi người sản xuất tại nước xuất khẩu để xuất khẩu sang nước nhập khẩu, thì việc tính toán lượng lợi nhuận và chi phí chung có thể dựa trên các thông tin có liên quan không phải là các thông tin do ngành sản xuất hoặc người khác nhân danh họ cung cấp.

    6. Khi các thông tin không phải do người sản xuất hoặc người khác nhân danh họ cung cấp, được sử dụng nhằm mục đích xác định trị giá tính toán, thì theo các quy định tại Điều 10, nếu được người nhập khẩu yêu cầu, cơ quan chức năng của nước nhập khẩu phải thông báo cho người nhập khẩu nguồn gốc của các thông tin đó, các dữ liệu đã được sử dụng, và phương pháp tính toán dựa trên các dữ liệu đó.

    7. “Các chi phí chung” nói tới tại điểm 1(b) Điều 6 bao gồm các chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan đến sản xuất và bán hàng xuất khẩu, không được tính vào theo quy định tại điểm 1(a) Điều 6.

    8. Việc liệu một loại hàng hóa cụ thể nào đó có “cùng phẩm cấp hoặc cùng chủng loại” như loại hàng hóa khác hay không phải được xác định tuỳ theo từng trường hợp có xem xét tới các tình huống có liên quan. Khi xác định lợi nhuận thông thường và các chi phí chung theo các quy định của Điều 6, việc hàng hóa được bán để xuất khẩu tới nước nhập khẩu các nhóm hoặc loại hàng nhập khẩu có diện hẹp nhất có, bao gồm cả hàng hóa đang được định giá, mà từ đó có thể cho các thông tin cần thiết, cần phải xem xét. Vì các mục đích của Điều 6, “hàng hóa cùng phẩm cấp và chủng loại’ phải có xuất xứ từ cùng một nước như hàng hóa đang được định giá.

    Chú thích Điều 7

    1. Các trị giá thuế quan được xác định theo các quy định của Điều 7 cần phải dựa trên, tới hết mức có thể, các trị giá thuế quan đã từng được xác định trước đây.

    2. Phương pháp định giá áp dụng tại Điều 7 sẽ là các biện pháp được đưa ra từ Điều 1 đến 6, tuy nhiên sự linh hoạt hợp lý khi vận dụng các phương pháp trên vẫn phải tuân thủ với các mục đích và các quy định tại Điều 7.

    3. Dưới đây là một vài thí dụ về tính linh hoạt hợp lý:

    (a) Hàng hóa giống hệt - yêu cầu các hàng hóa giống hệt phải xuất khẩu tại hoặc vào cùng thời gian như hàng hóa đang được định giá có thể được hiểu một cách linh hoạt; hàng hóa nhập khẩu giống hệt, sản xuất tại một nước không phải là nước xuất khẩu của hàng hóa đang được định giá, có thể dùng làm cơ sở cho việc định giá thuế quan; trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu giống hệt đã được xác định theo các quy định của Điều 5 và 6 cũng có thể được sử dụng.
    (b) Hàng hóa tương tự - yêu cầu các hàng hóa tương tự phải xuất khẩu tại hoặc vào cùng thời gian như hàng hóa đang được định giá có thể được hiểu một cách linh hoạt; hàng hóa nhập khẩu tương tự, sản xuất tại một nước không phải là nước xuất khẩu của hàng hóa đang được định giá, có thể dùng làm cơ sở cho việc định giá thuế quan; trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu tương tự đã được xác định theo các quy định của Điều 5 và 6 cũng có thể được sử dụng.
    (c) Phương pháp khấu trừ - yêu cầu hàng hóa phải được bán trong “điều kiện như hàng nhập khẩu” như quy định tại điểm 1(a) Điều 5 có thể được hiểu một cách linh hoạt; yêu cầu “90 ngày” cũng có thể được thực thi một cách linh hoạt.

    Chú thích Điều 8

    Điểm 1(a)(i)

    Thuật ngữ “tiền hoa hồng mua hàng” là khoản tiền mà người nhập khẩu phải thanh toán cho đại lý của người nhập khẩu đối với dịch vụ đại diện cho người nhập khẩu ở nước ngoài khi mua hàng hóa đang được định giá đó.

    Điểm 1(b)(ii)

    1. Có hai nhân tố liên quan đến việc phân bổ các yếu tố nêu tại điểm 1(b)(ii) Điều 8 vào hàng hóa nhập khẩu - trị giá của bản thân các yếu tố này và cách thức mà trị giá đó sẽ được phân bổ vào hàng hóa nhập khẩu đó. Việc tính các yếu tố này vào hàng hóa nhập khẩu phải được thực hiện một cách hợp lý, phù hợp với từng hoàn cảnh và tuân thủ các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung.

    2. Về trị giá của các yếu tố trên, nếu người nhập khẩu có được các yếu tố này từ một người bán không có liên hệ với người nhập khẩu với một chi phí nào đó, thì trị giá của yếu tố trên chính là chi phí đó. Nếu yếu tố trên là do người nhập khẩu hoặc một người có liên hệ với người nhập khẩu tạo ra/đem lại, thì trị giá của yếu tố đó chính là chi phí để tạo ra nó. Nếu yếu tố trên trước kia đã từng được người nhập khẩu sử dụng, cho dù nó được người nhập khẩu đó tạo ra hay có được, thì chi phí gốc ban đầu để tạo ra hoặc có được yếu tố đó sẽ phải được điều chỉnh xuống để phản ánh việc sử dụng chi phí này nhằm đánh giá đúng trị giá của yếu tố đó.

    3. Một khi đã xác định được một trị giá cho yếu tố trên, thì cần phải phân bổ giá trị đó vào hàng hóa nhập khẩu đó. Có tồn tại một số khả năng. Thí dụ, trị giá trên có thể được đưa vào chuyến hàng đầu tiên, nếu người nhập khẩu muốn được trả thuế nhập khẩu một lần cho toàn bộ trị giá. Một thí dụ khác là người nhập khẩu có thể yêu cầu trị giá đó được đưa vào số đơn vị hàng hóa đã được sản xuất cho tới thời điểm của chuyến hàng đầu tiên đó. Thêm một thí dụ nữa là: người nhập khẩu có thể yêu cầu đưa trị giá đó vào toàn bộ đợt sản xuất dự định mà họ đã có hợp đồng hoặc các cam kết chắc chắn cho việc sản xuất. Việc sử dụng phương pháp phân bổ trên sẽ phụ thuộc vào các tài liệu do người nhập khẩu cung cấp.

    4. Một thí dụ minh hoạ cho vấn đề nêu trên là một người nhập khẩu cung cấp cho người sản xuất một khuôn đúc để sử dụng trong sản xuất hàng nhập khẩu đó và ký hợp đồng với nhà sản xuất mua 10.000 chiếc. Khi chuyến hàng đầu tiên tới nơi, thì người sản xuất đã chế tạo được 4000 chiếc. Người nhập khẩu có thể yêu cầu cơ quan hải quan phân bổ giá trị của khuôn đó vào 1000 chiếc, 4000 chiếc hoặc 10.000 chiếc.

    Điểm 1(b)(iv)

    1. Tính bổ sung cho các yếu tố được cụ thể hóa tại điểm 1(b)(iv) Điều 8 cần phải dựa trên các số liệu khách quan và có thể lượng hóa được. Để giảm gánh nặng cho cả người nhập khẩu lẫn cơ quan hải quan khi xác định trị giá được bổ sung, các số liệu sẵn có trong hệ thống hồ sơ thương mại cần được sử dụng trong phạm vi tối đa có thể.

    2. Đối với các yếu tố do người bán cung cấp để người mua mua hoặc thuê, các khoản bổ sung là các chi phí thanh toán cho việc mua hoặc thuê. Không được tính bổ sung các yếu tố đã có sẵn thuộc dịch vụ công cộng, ngoài các chi phí để có được các bản sao đó.

    3. Việc tính toán các trị giá bổ sung có dễ dàng hay không phụ thuộc vào cơ cấu và thực tiễn quản lý, cũng như các phương pháp kế toán của công ty đó.

    4. Thí dụ, trường hợp có thể xảy ra là một công ty nhập khẩu một số sản phẩm từ một số nước khác nhau, giữ các hồ sơ của trung tâm thiết kế của họ ở bên ngoài nước nhập khẩu để có thể chứng minh một cách chính xác/xác đáng chi phí có thể qui cho một sản phẩm nào đó. Trong trường hợp như vậy, có thể điều chỉnh trực tiếp một cách hợp lý theo các quy định tại Điều 8.

    5. Trong trường hợp khác, một công ty có thể coi chi phí cho trung tâm thiết kế đặt ngoài nước nhập khẩu là một phần của chi phí hành chính chung mà không đưa vào các sản phẩm cụ thể. Trong thí dụ này, có thể chấp nhận việc điều chỉnh một cách thích hợp đối với hàng nhập khẩu đó theo các quy định tại Điều 8, bằng việc chia toàn bộ chi phí của trung tâm thiết kế cho tổng sản lượng của trung tâm thiết kế này sau đó cộng phần chi phí chia trên từng đơn vị hàng hóa đó vào hàng nhập khẩu.

    6. Sự khác nhau trong các tình huống nói trên tất nhiên sẽ đòi hỏi phải cân nhắc các nhân tố khác nhau để có thể xác định được phương pháp phân bổ đúng đắn.

    7. Trong trường hợp việc sản xuất ra yếu tố đó có liên quan đến một số nước và trong một khoảng thời gian, thì việc điều chỉnh cần giới hạn trong trị giá gia tăng thực sự của yếu tố đó bên ngoài nước nhập khẩu.

    Điểm 1(c)

    1. Tiền bản quyền và phí sử dụng bằng sáng chế đề cập tới tại điểm 1(c) Điều 8 có thể bao gồm, ngoài các yếu tố khác, các khoản thanh toán liên quan đến bằng sáng chế, nhãn hiệu thương mại, và bản quyền. Tuy nhiên, các khoản phải trả cho quyền được tái sản xuất hàng hóa nhập khẩu đó tại nước nhập khẩu sẽ không được cộng thêm vào giá đã thực sự thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu khi xác định trị giá thuế quan.

    2. Các khoản tiền do người mua trả để được quyền phân phối hay bán lại hàng hóa nhập khẩu sẽ không được cộng thêm vào giá đã thực sự thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu đó, nếu các khoản thanh toán đó không phải là một điều kiện của việc bán hàng để xuất khẩu sang nước nhập khẩu hàng hóa nhập khẩu đó.

    Khoản 3

    Khi không tồn tại các dữ liệu khách quan và có thể lượng hóa được liên quan đến các khoản tính thêm đòi hỏi phải bổ sung theo các quy định của Điều 8, thì trị giá giao dịch không thể xác định theo các quy định của Điều 1. Thí dụ như tiền bản quyền sẽ trả trên cơ sở giá cả khi việc bán hàng tại nước nhập khẩu với 1 lít của một sản phẩm nào đó đã được nhập khẩu theo kilô-gram và được chế thành dung dịch sau khi nhập khẩu. Nếu tiền bản quyền một phần được dựa trên hàng hóa nhập khẩu và một phần được dựa trên các nhân tố khác không có liên hệ gì với hàng hóa nhập khẩu đó (thí dụ khi hàng hóa nhập khẩu được trộn lẫn với các thành phần sản xuất trong nước và không thể phân tách riêng rẽ được, hoặc khi không thể phân biệt được giữa tiền bản quyền với các thoả thuận tài chính đặc biệt giữa người bán và người mua), thì việc cố gắng để đưa một khoản bổ sung vào tiền bản quyền là không thích hợp. Tuy nhiên, nếu khoản tiền bản quyền này chỉ dựa trên hàng hóa nhập khẩu và có thể lượng hóa được ngay, thì khoản tiền này có thể được bổ sung vào giá thực tế thanh toán hoặc phải thanh toán.

    Chú thích Điều 9

    Theo Điều 9, “thời điểm nhập khẩu” có thể là thời điểm hàng hóa nhập cảnh cho mục đích thuế quan.

    Chú thích Điều 11

    1. Điều 11 cho phép người nhập khẩu kháng cáo quyết định định giá của cơ quan hải quan đối với những hàng hóa đang được định giá. Nhà nhập khẩu ban đầu có thể kháng cáo lên cấp cao hơn trong cơ quan hải quan, nhưng trong trường hợp cuối cùng sẽ có quyền kháng cáo lên cơ quan tư pháp.

    2. “Không phải chịu phạt” có nghĩa là người nhập khẩu sẽ không phải trả tiền phạt hoặc bị đe doạ phải nộp tiền phạt chỉ vì người nhập khẩu lựa chọn thực thi quyền kháng cáo. Việc thanh toán các án phí thông thường và các chi phí luật sư không được coi là tiền phạt.

    3. Tuy nhiên, không có quy định nào trong Điều 11 ngăn cản một Thành viên yêu cầu người nhập khẩu thanh toán một cách đầy đủ thuế quan đã được xác định trước khi có kháng cáo.

    Chú thích Điều 15

    Khoản 4

    Theo Điều 15, thuật ngữ “những người” bao gồm cả pháp nhân khi thích hợp.

    Điểm 4(e)

    Theo Hiệp định này, một người được coi là kiểm soát người khác khi người đầu tiên đang ở một vị thế, mà về mặt pháp lý hay điều hành mà nói, có thể kiềm chế hoặc chỉ đạo cho người thứ hai.





    PHụ lục II

    Uỷ ban kỹ thuật về định giá thuế quan

    1. Theo Điều 18 của Hiệp định này, Uỷ ban kỹ thuật sẽ được thành lập dưới sự bảo trợ của Hội đồng hợp tác hải quan nhằm đảm bảo, về mặt kỹ thuật, sự thống nhất trong việc giải thích và áp dụng Hiệp định này.

    2. Uỷ ban kỹ thuật có những trách nhiệm sau đây:

    (a) kiểm tra các vấn đề kỹ thuật cụ thể nảy sinh trong việc điều hành chế độ định giá thuế quan của các nước Thành viên và dựa trên thực tế để tư vấn về các giải pháp thích hợp;

    (b) khi được yêu cầu nghiên cứu, pháp luật, thủ tục, và thông lệ trong định giá thuế quan liên quan đến Hiệp định này và chuẩn bị báo cáo kết quả của các nghiên cứu đó;

    (c) chuẩn bị và gửi báo cáo hàng năm về các khía cạnh kỹ thuật của sự vận hành và thực trạng của việc thực hiện Hiệp định này;

    (d) cung cấp các thông tin và tư vấn về các vấn đề liên quan đến định giá thuế quan hàng nhập khẩu mà một Thành viên nào đó hoặc Uỷ ban có thể yêu cầu. Các thông tin và tư vấn như vậy có thể dưới hình thức ý kiến tư vấn, bình luận hay giải thích.

    (e) tạo điều kiện thuận lợi trong việc hỗ trợ kỹ thuật cho các nước Thành viên, khi được yêu cầu, để tăng cường sự chấp nhận của quốc tế đối với Hiệp định này;

    (f) xem xét vấn đề đã được ban hội thẩm đề cập theo Điều 19 của Hiệp định này; và

    (g) thực hiện các trách nhiệm khác mà Uỷ ban có thể giao phó

    Khái quát

    3. Uỷ ban kỹ thuật sẽ cố gắng hoàn thành công việc cụ thể, đặc biệt là các vấn đề mà các Thành viên, Uỷ ban hoặc ban hội thẩm đề cập tới, trong một khoảng thời gian ngắn hợp lý. Như đã đề cập tới trong khoản 4 Điều 19, Ban hội thẩm cần phải ấn định một khoảng thời gian cụ thể cho việc hoàn thành báo cáo của Uỷ ban kỹ thuật và Uỷ ban kỹ thuật sẽ nộp báo cáo của mình trong khoảng thời gian đó.

    4. Ban Thư ký Hội đồng hợp tác hải quan cần trợ giúp tất cả các hoạt động của Uỷ ban kỹ thuật một cách thích đáng.



    Đại diện

    5. Mỗi Thành viên đều có quyền cử đại diện của mình trong Uỷ ban kỹ thuật. Mỗi Thành viên có thể đề cử một đại diện và một hoặc nhiều đại diện dự khuyết để đại diện cho nước mình trong Uỷ ban kỹ thuật. Thành viên có đại diện trong Uỷ ban Kỹ thuật sẽ được là một "thành viên của Uỷ ban kỹ thuật" trong phụ lục này. Các đại diện của các thành viên trong Uỷ ban kỹ thuật có thể được các cố vấn trợ giúp. Ban Thư ký WTO có thể tham dự các cuộc họp trên với tư cách quan sát viên.

    6. Các Thành viên của Hội đồng hợp tác hải quan nhưng không phải là Thành viên của WTO có thể cử một đại diện và một hoặc nhiều đại diện dự khuyết tham gia các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật. Các đại diện trên có thể tham dự các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật với tư cách quan sát viên.

    7. Trên cơ sở phê duyệt của Chủ tịch Uỷ ban kỹ thuật, Tổng Thư ký CCC (sau đây trong Phụ lục này gọi là "Tổng Thư ký") có thể mời đại diện các Chính phủ không phải là Thành viên của WTO hoặc của CCC và đại diện của các tổ chức chính phủ và thương mại quốc tế tham dự các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật với tư cách quan sát viên.

    8. Việc đề cử đại diện, đại diện dự khuyết và các cố vấn cho các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật sẽ được gửi cho Tổng Thư ký.

    Các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật

    9. Uỷ ban Kỹ thuật sẽ họp khi cần thiết, nhưng ít nhất hai lần một năm. Ngày của mỗi cuộc họp sẽ do Uỷ ban kỹ thuật quyết định tại kỳ họp trước đó. Ngày họp có thể thay đổi theo yêu cầu của bất kỳ một thành viên của Uỷ ban kỹ thuật với sự đồng ý của đa số các thành viên của Uỷ ban kỹ thuật, hoặc, trong các trường hợp khẩn cấp, theo yêu cầu của Chủ tịch. Cho dù có các quy định tại tại câu 1 của khoản này, Uỷ ban kỹ thuật sẽ họp khi cần thiết để xem xét các vấn đề do Ban hội thẩm chuyển lên theo các quy định tại Điều 19 của Hiệp định này.

    10. Các cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật sẽ được tổ chức tại trụ sở của CCC trừ khi có quyết định khác.

    11. Tổng Thư ký sẽ thông báo cho tất cả các thành viên của Uỷ ban kỹ thuật và những người có liên quan nêu tại khoản 6 và 7, về ngày khai mạc của mỗi kỳ họp của Uỷ ban kỹ thuật trước ít nhất 30 ngày trừ trường hợp khẩn cấp

    Chương trình nghị sự

    12. Chương trình nghị sự tạm thời của mỗi kỳ họp sẽ được Tổng Thư ký soạn thảo và gửi tới các thành viên Uỷ ban kỹ thuật và những người có liên quan nêu tại khoản 6 và 7, ít nhất 30 ngày trước kỳ họp, trừ trường hợp khẩn cấp. Chương trình nghị sự này sẽ bao gồm tất cả các điểm mà Uỷ ban kỹ thuật đã thông qua để đưa vào Chương trình nghị sự từ kỳ họp trước, tất cả các điểm mà Chủ tịch đã đưa vào theo sáng kiến của mình, và tất cả các điểm mà Tổng Thư ký, Uỷ ban, hoặc bất kỳ thành viên nào của Uỷ ban kỹ thuật đã yêu cầu đưa vào chương trình nghị sự.

    13. Uỷ ban kỹ thuật sẽ quyết định chương trình nghị sự tại phiên khai mạc của mỗi kỳ họp. Trong quá trình họp, chương trình nghị sự có thể được Uỷ ban Kỹ thuật thay đổi tại bất kỳ thời điểm nào.

    Chức trách và cách điều hành các phiên họp

    14. Uỷ ban kỹ thuật sẽ bầu Chủ tịch và một hoặc một số Phó Chủ tịch trong số các đại biểu của các thành viên. Nhiệm kỳ của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch là một năm. Chủ tịch và các Phó Chủ tịch đã hết nhiệm kỳ có thẻ được tái cử. Cương vị của Chủ tịch và các Phó Chủ tịch sẽ mặc nhiên chấm dứt khi họ không còn đại diện cho một thành viên của Uỷ ban kỹ thuật nữa.

    15. Nếu Chủ tịch vắng mặt trong bất kỳ một cuộc họp hoặc một phần của cuộc họp, thì Phó chủ tịch sẽ làm chủ tọa. Trong trường hợp đó Phó Chủ tịch có đầy đủ quyền hạn và nghĩa vụ như Chủ tịch.

    16. Chủ tịch cuộc họp sẽ tham gia vào cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật với tư cách là Chủ tịch chứ không phải là đại diện của một thành viên Uỷ ban kỹ thuật.

    17. Bên cạnh việc thực thi các quyền hạn đã dành cho Chủ tịch theo các quy tắc này, Chủ tịch sẽ tuyên bố khai mạc và bế mạc mỗi cuộc họp, hướng dẫn việc thảo luận, cho phép phát biểu và, theo các quy tắc này, điều khiển quá trình cuộc họp. Chủ tịch cũng có thể nhắc nhở người phát biểu nếu ý kiến của người đó không phù hợp.

    18. Trong quá trình thảo luận về bất kỳ vấn đề nào, một đoàn đại biểu có thể đưa ra vấn đề thủ tục. Trong trường hợp đó Chủ tịch sẽ phải đưa ra quyết định ngay lập tức. Nếu có ý kiến trái với quyết định đó thì Chủ tịch sẽ đưa ra cuộc họp quyết định và quyết định đó sẽ có hiệu lực trừ khi bị phủ quyết.

    19. Tổng Thư ký, hoặc các nhân viên của Ban Thư ký CCC được Tổng Thư ký chỉ định, sẽ thực hiện các công việc thư ký cuộc họp của Uỷ ban kỹ thuật.

    Số đại biểu hợp lệ và biểu quyết

    20. Số đại biểu chiếm đa số quá bán các thành viên của Uỷ ban kỹ thuật là số đại biểu hợp lệ để thông qua một quyết định.

    21. Mỗi thành viên của Uỷ ban kỹ thuật được một phiếu bầu. Quyết định của Uỷ ban kỹ thuật phải được ít nhất đa số hai phần ba số đại biểu có mặt thông qua. Không phụ thuộc vào kết quả của việc biểu quyết về một vấn đề cụ thể, Uỷ ban kỹ thuật sẽ được tự do báo cáo đầy đủ với Uỷ ban và CCC về vấn đề đó, có nêu các quan điểm khác nhau được đưa ra trong các cuộc thảo luận liên quan. Bất kể các quy định nêu trên của khoản này, Uỷ ban kỹ thuật sẽ quyết định các vấn đề do ban hội thẩm chuyển lên theo nguyên tắc đồng thuận. Nếu Uỷ ban kỹ thuật không đạt được thống nhất về một vấn đề do ban hội thẩm chuyển lên, Uỷ ban kỹ thuật sẽ có báo cáo nêu chi tiết các khía cạnh của vấn đề và các quan điểm của các Thành viên.


    Ngôn ngữ và biên bản

    22. Ngôn ngữ chính thức của Uỷ ban kỹ thuật là tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Tây Ban Nha. Các bài diễn văn hoặc phát biểu thể hiện bằng bất kỳ một ngôn ngữ nào trong số ba ngôn ngữ chính thức kể trên sẽ được dịch ngay lập tức ra các ngôn ngữ chính thức khác, trừ khi các đoàn đại biểu đều tán thành không sử dụng phiên dịch. Các bài diễn văn hoặc phát biểu thể hiện bằng bất kỳ một ngôn ngữ nào khác sẽ được dịch ra tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, theo cùng một điều kiện, nhưng trong trường hợp đó phái đoàn hữu quan sẽ phải lo liệu việc dịch sang tiếng Anh, tiếng Pháp, hoặc tiếng Tây Ban Nha. Chỉ có tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Tây ban Nha sẽ được sử dụng trong các văn bản chính thức của Uỷ ban kỹ thuật. Các bản ghi nhớ và thư từ khi trình lên Uỷ ban kỹ thuật để xem xét phải sử dụng một trong số các ngôn ngữ chính thức đó.

    23. Uỷ ban kỹ thuật lập báo cáo về tất cả các kỳ họp của mình, và cả biên bản hoặc tóm tắt các cuộc họp nếu Chủ tịch thấy cần thiết. Chủ tịch hoặc người được Chủ tịch uỷ nhiệm báo cáo công việc của Uỷ ban kỹ thuật tại mỗi cuộc họp của Uỷ ban.

    Phụ lục III

    1. Việc cho phép các Thành viên đang phát triển trì hoãn việc áp dụng các quy định của Hiệp định này trong vòng 5 năm, theo khoản 1 Điều 20, trên thực tế vẫn còn có thể chưa đủ đối với một số nước đang phát triển. Trong trường hợp như vậy, trước khi kết thúc kỳ hạn nêu tại khoản 1 Điều 20, một nước thành viên đang phát triển có thể yêu cầu gia hạn một khoảng thời gian nữa. Thường thì các Thành viên sẽ thông cảm khi cân nhắc một yêu cầu như vậy, trong trường hợp Thành viên đang phát triển đó có thể đưa ra các lý do hợp lý.

    2. Các nước đang phát triển hiện đang định giá hàng hóa trên cơ sở trị giá tối thiểu đã được chính thức thiết lập có thể muốn giữ quyền bảo lưu để tiếp tục áp dụng các trị giá đó một cách giới hạn và trong thời gian chuyển đổi theo thời hạn và điều kiện đã được các nước Thành viên đồng ý chấp thuận.

    3. Các nước đang phát triển mà cho rằng việc đảo thứ tự theo yêu cầu của người nhập khẩu được cho phép theo Điều 4 của Hiệp định này có thể làm tăng các khó khăn thực sự cho họ, có thể muốn bảo lưu việc thực hiện Điều 4 theo các quy định và điều kiện sau:

    “ Chính phủ của. . . . . . . . bảo lưu quyền quy định rằng các quy định có liên quan của Điều 4 Hiệp định này chỉ áp dụng khi cơ quan hải quan đồng ý vơí yêu cầu đảo ngược thứ tự của Điều 5 và Điều 6”.

    Nếu nước đang phát triển có bảo lưu như vậy, thì các Thành viên sẽ đồng ý theo Điều 21 của Hiệp định này.

    4. Các nước đang phát triển có thể bảo lưu đối với khoản 2 và 5 của Hiệp định này theo các quyd dịnh và điều kiện như sau:

    “Chính phủ của. . . . . . . bảo lưu quyền quy định rằng khoản 2 Điều 5 của Hiệp định này cần phải được áp dụng theo các quy định trong các chú thích liên quan cho dù người nhập khẩu có yêu cầu hay không”

    Nếu nước đang phát triển đưa ra bảo lưu như vậy, thì các Thành viên sẽ đồng ý theo Điều 21 của Hiệp định này.

    5. Một số nước đang phát triển có thể gặp phải một số khó khăn trong việc thực hiện Điều 1 của Hiệp định này khi việc nhập khẩu vào nước họ được thực hiện thông qua các đại lý độc quyền, các nhà phân phối độc quyền và những người được nhượng độc quyền. Nếu những vấn đề đó xảy ra trên thực tế tại các nước Thành viên là nước đang phát triển, hiện đang áp dụng Hiệp định này, thì theo yêu cầu của các nước đang phát triển đó, vấn đề trên cần được nghiên cứu nhằm tìm ra một giải pháp thích hợp.

    6. Điều 17 công nhận rằng khi áp dụng Hiệp định này, cơ quan hải quan có thể cần phải thẩm tra tính trung thực hoặc tính chính xác của bất kỳ bản báo cáo, giấy tờ, hoặc kê khai đã nộp cho họ nhằm mục đích định giá thuế quan. Điều 17, do đó công nhận rằng việc thẩm tra có thể được thực hiện, thí dụ để nhằm xác minh rằng các yếu tố của trị giá được kê khai hoặc được nộp cho hải quan nhằm xác định trị giá thuế quan là đầy đủ và chính xác. Tùy thuộc vào luật pháp quốc gia và các thủ tục, các Thành viên có quyền đòi hỏi người nhập khẩu hợp tác đầy đủ trong các cuộc thẩm tra này.

    7. Giá thực sự thanh toán hoặc phải thanh toán là mọi khoản thanh toán mà người mua thực sự đã trả hoặc sẽ trả theo điều kiện của việc bán hàng nhập khẩu cho người bán hoặc cho một người thứ ba để thực hiện một nghĩa vụ của người bán.
    ________________________________________
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên http://www.vksndtc.gov.vn
     
    HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) phần 2
    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 1 trang
     Similar topics
    -
    » Âu Cơ - Lạc Long Quân - Truyện tranh
    » Trứng gà tác hại...
    » THƠ VUI TẾU
    » TẮM RỬA CHO CHÚNG SINH ĐAU KHỔ
    » Nguyễn Du

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
    CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM :: Banking - stock :: Tài liệu của Luật ngân hàng tài chính chứng khoán và luật kinh doanh ,thương mại-
    Chuyển đến