CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM

Câu lạc bộ luật tài chính ngân hàng chứng khoán - Khoa kinh tế -luật- đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
 
Trang ChínhPortalTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
Tin Tức Pháp Luật

quanlymoitruongBáo thanh niên
quanlymoitruongUỷ ban chứng khoán nhà nước
quanlymoitruongTất cả văn bản pháp luật
quanlymoitruongLớp luật kinh doanh khoá 05
quanlymoitruongKhoa kinh tế - luật - ĐHQG.TPHCM
quanlymoitruongcảm xúc chưa đặt tên
quanlymoitruongcâu chuyện Valen...
quanlymoitruongchỉ có 1 cuộc điện
quanlymoitruongchiếc khăn tay
quanlymoitruongdanh ngôn tình yêu
quanlymoitruongduyên nợ
quanlymoitruongiu người chưa hề biết
quanlymoitruongKhi nào ấy nhớ đây
quanlymoitruonglàm sao cho ai kia hiểu
quanlymoitruonglời khuyên tình yêu
quanlymoitruonglời hẹn ước
quanlymoitruongmat tinh yeu
quanlymoitruongmón quà giáng sinh
quanlymoitruongmưa bằng lăng
quanlymoitruongmưa tình bạn
quanlymoitruongngày anh nói i love u
quanlymoitruongngày nhớ đêm mong
quanlymoitruongnhìn kìa anh iu
quanlymoitruongnơi đâu là...?
quanlymoitruongtâm lý bạn trai
quanlymoitruongtâm lý bạn gái
quanlymoitruongTấm cám 1
quanlymoitruongTấm cám 2
quanlymoitruongThơ tình
quanlymoitruongthông điệp tình yêu
quanlymoitruongthư tình
quanlymoitruongtìm kiếm tình yêu
quanlymoitruongtình yêu không lời
quanlymoitruongtình yêu tuổi mới lớn
quanlymoitruongtình yêu
quanlymoitruongtrong tình yêu


Tin Tức Chứng Khoán
  • Bảng giao dịch trực truyến HASTC
  • Hỗ Trợ Trực Tuyến
    Admin
    Chát với admin
    lienhe Liên Hệ

     
    Hỗ trợ kỹ thuật 1
    lienhe
    Hỗ trợ kỹ thuật 2
     Hỗ trợ kỹ thuật 2

    lienheHỗ trợ kỹ thuật 3   
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 3
    lienheHỗ trợ kỹ thuật 4
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 4
    Số lần truy cập

    visitor analysis


    Share | 
     

     HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) phần 1

    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
    Tác giảThông điệp
    Linhprince

    avatar

    Tổng số bài gửi : 50
    Join date : 20/09/2010
    Age : 30
    Đến từ : Ha Noi

    Bài gửiTiêu đề: HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) phần 1   Tue Sep 21, 2010 7:41 pm

    HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994)

    Giới thiệu chung


    1. Cơ sở chủ yếu để xác định trị giá thuế quan, theo Hiệp định này là “giá trị giao dịch” như định nghĩa tại Điều 1 được hiểu cùng với Điều 8, ngoài các nội dung khác, quy định về sự điều chỉnh giá thanh toán thực tế hoặc giá phải thanh toán, trong trường hợp người mua chịu một số chi phí cấu thành cụ thể nào đó, được coi là đã tạo thành một phần của giá trị mà hải quan dùng để tính thuế, nhưng hiện chưa tính vào giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng nhập khẩu. Điều 8 cũng quy định giá trị giao dịch bao gồm cả các chi phí mà người mua thanh toán cho người bán dưới dạng hàng hóa hay dịch vụ cụ thể nào đó chứ không phải dưới dạng tiền. Từ Điều 2 đến Điều 7 quy định các phương pháp xác định trị giá thuế quan khác một khi không thể xác định trị giá này theo các quy định của Điều 1.

    2. Khi trị giá thuế quan không thể được xác định theo các quy định của Điều 1, thì thông thường cơ quan hải quan sẽ trao đổi với người nhập khẩu để đạt được cơ sở tính trị giá theo các quy định của Điều 2 hoặc Điều 3. Thí dụ, có thể xảy ra trường hợp nhà nhập khẩu có thông tin về trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự mà cơ quan hải quan tại cảng nhập không có ngay được. Ngược lại, cơ quan hải quan có thể có thông tin về trị giá thuế quan của những mặt hàng giống hệt hoặc tương tự mà nhà nhập khẩu chưa có. Quá trình tham vấn giúp hai bên trao đổi thông tin với tinh thần vẫn đáp ứng được yêu cầu bảo mật thương mại, nhằm định ra một cơ sở để xác định trị giá thuế quan thích hợp.

    3. Điều 5 và Điều 6 quy định hai cơ sở để xác định trị giá thuế quan trong trường hợp không thể xác định được bằng cách dựa trên giá trị giao dịch của hàng nhập khẩu, hay của hàng nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự. Theo khoản 1 Điều 5, trị giá thuế quan được xác định trên cơ sở giá bán hàng hóa, trong điều kiện là hàng nhập khẩu, cho một người mua không có liên hệ tại nước nhập khẩu. Nhà nhập khẩu cũng có quyền yêu cầu hàng đã được tiếp tục chế biến sau khi nhập khẩu được định giá thuế quan theo Điều 5. Theo Điều 6, trị giá tính thuế được xác định trên cơ sở giá trị tính toán. Cả hai phương pháp trên đều có những khó khăn nhất định và do đó, theo qui định tại Điều 4, người nhập khẩu được phép trao quyền lựa chọn áp dụng phương pháp nào trước.

    4. Điều 7 đưa ra phương pháp làm thế nào để xác định trị giá thuế quan trong trường hợp trị giá này không thể xác định được theo các quy định của các Điều trước đó.

    Các Thành viên,

    Trong bối cảnh Đàm phán Thương mại Đa biên;

    Mong muốn thúc đẩy các mục tiêu của GATT 1994 và đảm bảo hơn nữa lợi ích của các nước đang phát triển trong thương mại quốc tế;

    Thừa nhận tầm quan trọng của những quy định tại Điều 7 GATT 1994 và mong muốn chi tiết hóa những quy tắc áp dụng những điều khoản này nhằm đảm bảo tính thống nhất và chắc chắn trong việc thi hành;

    Thừa nhận sự cần thiết của một chế độ định giá hàng hóa một cách thỏa đáng, thống nhất và vô tư vì các mục đích thuế quan, nhằm ngăn chặn việc sử dụng trị giá thuế quan tuỳ tiện hay thái quá;

    Thừa nhận rằng cơ sở để định giá hàng hóa vì mục đích thuế quan cần , trong phạm vi rộng nhất có thể, phải là giá trị giao dịch của hàng hóa được định giá;

    Thừa nhận rằng trị giá thuế quan cần dựa trên tiêu chí đơn giản và công bằng, phù hợp với các thông lệ thương mại và những thủ tục định giá này phải được áp dụng chung mà không có sự phân biệt giữa các nguồn cung cấp;

    Thừa nhận rằng không nên dùng những thủ tục định giá để chống bán phá giá hàng hóa;

    Bằng Hiệp định này, thoả thuận như sau:

    PHầN I

    những Quy tắc định thuế quan

    Điều 1

    1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải là giá trị giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa được bán để xuất khẩu đến nước nhập khẩu có điều chỉnh phù hợp với các quy định ở Điều 8, với điều kiện là:

    (a) không có sự hạn chế nào trong việc người mua định đoạt hay sử dụng hàng hóa, trừ những hạn chế:

    (i) đã được áp dụng hoặc quy định bởi luật pháp hoặc bởi các cơ quan có thẩm quyền tại nước nhập khẩu;

    (ii) nhằm giới hạn những khu vực địa lý mà hàng hóa có thể được phép bán lại hoặc:

    (iii) không gây ảnh hưởng lớn tới giá trị hàng hóa.

    (b) việc mua bán hoặc giá cả không phụ thuộc vào điều kiện hoặc suy xét nào đó khiến không thể xác định được giá trị của hàng hóa đang được định giá.

    (c) người bán sẽ không được trực tiếp hoặc gián tiếp hưởng bất kỳ phần nào từ số tiền do người mua thu được qua bán lại, nhượng lại hoặc sử dụng hàng hóa này, trừ một số điều chỉnh hợp lý được phép tại Điều 8 ; và

    (d) người mua và người bán không có liên hệ*, hoặc trong trường hợp có liên hệ đó thì giá trị giao dịch chỉ được chấp nhận cho mục đích thuế quan theo các qui định tại khoản 2.

    2. (a) Khi quyết định liệu giá trị giao dịch có thể được chấp nhận theo mục đích đã nêu trong khoản 1 nói trên hay không thì việc người mua và người bán có liên hệ trong phạm vi ý nghĩa đã nêu ở Điều 15 tự nó không thể dùng làm căn cứ để bác bỏ việc sử dụng giá trị giao dịch. Trong trường hợp như vậy, các tình huống xung quanh việc mua bán đó sẽ được kiểm tra và giá trị giao dịch sẽ được chấp nhận với với điều kiện sự liên hệ giữa người mua và người bán không ảnh hưởng tới giá cả. Nếu dựa trên các thông tin do nhà nhập khẩu hoặc các nguồn khác cung cấp, cơ quan hải quan có lý do để cho rằng mối liên hệ này ảnh hưởng tới giá cả, thì cơ quan hải quan phải thông báo những lý do này cho người nhập khẩu và người nhập khẩu phải có cơ hội hợp lý để giải trình. Nếu người nhập khẩu yêu cầu, cơ quan hải quan sẽ thông báo bằng văn bản các căn cứ đã áp dụng.

    (b) Trong giao dịch mua bán giữa những người có liên hệ, giá trị giao dịch sẽ được chấp nhận và hàng hóa sẽ được định giá theo các qui định tại khoản 1 một khi người nhập khẩu chứng minh được rằng trị giá đó, lấy tại cùng hoặc vào khoảng cùng thời điểm, là rất sát với trị giá trong các trường hợp sau:

    (i) trị giá giao dịch của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự được xuất khẩu cho người nhập khẩu không có liên hệ tại nước nhập khẩu;

    (ii) trị giá thuế quan của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự được xác định theo các quy định tại Điều 5;

    (iii) trị giá thuế quan của các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự được xác định theo các quy định tại Điều 6;

    Khi áp dụng các phương pháp kiểm tra nói trên, cần phải cân nhắc một cách thích đáng sự chênh lệch về cấp lưu thông, mức số lượng, các yếu tố liệt kê trong Điều 8 và các chi phí mà người bán phải chịu khi bán hàng cho người mua không có liên hệ, nhưng không phát sinh khi người bán bán hàng cho người mua có liên hệ.

    (c) Các phương pháp kiểm tra được đề cập tới ở điểm 2(b) sẽ được sử dụng theo đề xuất của người nhập khẩu và chỉ nhằm mục đích so sánh. Các giá trị thay thế có thể sẽ không được xây dựng theo các quy định của điểm 2(b).

    Điều 2

    1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định tại Điều 1, thì trị giá thuế quan là trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó được định giá.

    (b) Khi áp dụng Điều này, trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt, được bán với cùng một cấp lưu thông và về cơ bản cùng một số lượng tại thời điểm hàng hóa đó được định giá, sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quanKhi không thể tìm được một giao dịch bán hành như trên, thì trị giá giao dịch của hàng hóa giống hệt được bán với cấp lưu thông khác và/hoặc số lượng khác, sau khi đã được điều chỉnh có tính tới sự khác biệt do cấp lưu thông và/hoặc số lượng sinh ra, sẽ được sử dụng, với điều kiện các điều chỉnh này được dựa trên chứng cứ đã đưa ra, chứng minh một cách rõ ràng tính hợp lý và chính xác của sự điều chỉnh, dù sự điều chỉnh này có thể dẫn tới sự tăng hay giảm trị giá.

    2. Khi các chi phí và phí quy định tại khoản 2 của Điều 8 được tính vào trị giá giao dịch, thì sự điều chỉnh cần phải tính tới những chênh lệch đáng kể về chi phí và các khoản thu giữa hàng nhập khẩu và hàng hóa giống hệt nó được đề cập tới ở đây do sự khác nhau về khoảng cách và phương thức vận chuyển.

    3. Nếu khi áp dụng Điều này mà thấy có nhiều trị giá giao dịch của những hàng hóa giống hệt, thì trị giá thấp nhất sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó.

    Điều 3

    1. (a) Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định theo các quy định của Điều 1 và Điều 2 thì trị giá thuế quan sẽ là trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán để xuất khẩu sang cùng nước nhập khẩu đó và được xuất khẩu vào cùng thời điểm mà hàng hóa đó đang được định giá.

    (b) Khi áp dụng Điều này, trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự, được bán với cùng một cấp lưu thông và về cơ bản cùng một số lượng tại thời điểm hàng hóa đang được định giá, sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan. Khi không thể tìm được một thương vụ như trên, thì trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự được bán với cấp lưu thông khác và/hoặc số lượng khác, sau khi đã được điều chỉnh có tính tới sự khác biệt về cấp lưu thông và/hoặc số lượng, sẽ được sử dụng, với điều kiện các điều chỉnh này được dựa trên chứng cứ được đưa ra, chứng minh một cách rõ ràng tính hợp lý và chính xác của sự điều chỉnh, dù sự điều chỉnh này có thể dẫn tới sự tăng hay giảm trị giá.

    2. Khi các chi phí và phí nêu tại khoản 2 Điều 8 được tính trong trị giá giao dịch, thì sự điều chỉnh cần phải tính tới những chênh lệch đáng kể về chi phí và các khoản thu giữa hàng nhập khẩu và hàng hóa tương tự được đề cập tới ở đây do sự khác nhau về khoảng cách và phương tiện vận chuyển.

    3. Nếu khi áp dụng Điều này mà thấy có nhiều trị giá giao dịch của hàng hóa tương tự, thì trị giá thấp nhất sẽ được sử dụng để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó.


    Điều 4

    Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định tại Điều 1, Điều 2, và Điều 3, thì phải xác định theo các quy định tại Điều 5, hoặc theo các quy định tại Điều 6 trong trường hợp trị giá thuế quan trên vẫn không thể xác định được theo Điều 5. Trong trường hợp người nhập khẩu có yêu cầu, thứ tự áp dụng Điều 5 và 6 có thể đảo lại.


    Điều 5

    1. (a) Nếu hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hay tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu theo điều kiện nhập khẩu, thì trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu đó theo các quy định của Điều này sẽ phải dựa trên giá của đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu trên hoặc hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được bán với tổng số lượng lớn nhất, vào cùng hoặc khoảng cùng thời gian nhập khẩu hàng hóa đang được định giá, bán cho người mua không có liên hệ với đến người bán hàng hóa đó, có khấu trừ các chi phí sau đây:

    (i) tiền hoa hồng thường thanh toán hoặc đồng ý thanh toán hoặc một khoản phụ trội thường tính cho lợi nhuận và các chi phí chung liên quan đến việc bán hàng ở nước nhập khẩu có cùng phẩm cấp và chủng loại;

    (ii) các chi phí thông thường để vận chuyển và bảo hiểm hàng hóa cùng các chi phí có liên quan phải chịu ở nước nhập khẩu;

    (iii) các chi phí và các khoản thu nói tại khoản 2 Điều 8 khi thấy phù hợp;

    (iv) thuế quan và thuế nội địa phải trả tại nước nhập khẩu khi nhập khẩu hoặc bán hàng hóa đó.

    (b) Nếu hàng nhập khẩu hoặc hàng giống hệt hay tương tự nhập khẩu đều không được bán vào hoặc vào cùng thời điểm nhập khẩu của hàng hóa đang được định giá, thì trị giá thuế quan sẽ phải tính theo các qui định của điểm 1(a), dựa trên giá cả tính theo đơn vị hàng hóa mà hàng hóa nhập khẩu hoặc hàng hóa giống hệt hoặc tương tự nhập khẩu được bán tại nước nhập khẩu với những điều kiện được nhập khẩu vào một ngày sớm nhất sau ngày nhập khẩu hàng hóa đang được định giá nhưng trước khi kết thúc thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhập khẩu.

    2. Nếu hàng nhập khẩu hoặc hàng giống hệt hay tương tự nhập khẩu đều không được bán tại nước nhập khẩu với những điều kiện như hàng nhập khẩu, thì theo yêu cầu của nhà nhập khẩu, trị giá quan thuế phải dựa trên giá cả tính theo đơn vị hàng hóa mà hàng nhập khẩu sau khi đã được tiếp tục chế biến thêm, được bán với tổng số lượng lớn nhất cho người mua ở nước nhập khẩu không có quan hệ với những người mà họ đã mua hàng hóa đó, khoản tiền thích đáng đã chi phí cho việc chế biến nhằm gia tăng giá trị và các khoản được phép khấu trừ qui định tại điểm 1(a).

    Điều 6

    1. Trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu theo các quy định của Điều này sẽ dựa trên giá trị tính toán. Giá trị tính toán là tổng của các khoản sau:

    (a) các chi phí hoặc giá trị của nguyên vật liệu và quá trình sản xuất hoặc chế biến được sử dụng trong việc sản xuất ra hàng nhập khẩu đó;

    (b) khoản lợi nhuận và các chi phí chung tương đương với lợi nhuận thường có trong việc bán hàng hóa có cùng phẩm cấp và chủng loại như hàng hóa đang được định giá, do các nhà sản xuất của nước xuất khẩu sản xuất để xuất khẩu sang nước nhập khẩu;

    (c) các chi phí hoặc giá trị của các phí tổn cần thiết để phản ánh phương pháp định giá được Thành viên đó lựa chọn theo khoản 2 Điều 8.

    2. Không một Thành viên nào được đòi hỏi hoặc ép buộc một người không cư trú trên lãnh thổ của mình phải xuất trình để kiểm tra hoặc cho phép tiếp cận sổ sách hoặc các hồ sơ khác nhằm mục đích xác định giá trị tính toán. Tuy nhiên, các thông tin do nhà sản xuất của hàng hóa đó cung cấp, nhằm mục đích xác định trị giá thuế quan theo các quy định của Điều này, có thể được các cơ quan thẩm quyền của nước nhập khẩu xác minh lại tại một nước khác với sự đồng ý của nhà sản xuất và với điều kiện họ có thông báo trước một thời gian thích đáng cho chính phủ của nước có liên quan và nước này không phản đối việc điều tra.



    Điều 7

    1. Nếu trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu không thể xác định được theo các quy định từ Điều 1 đến Điều 6, thì giá trị thuế quan sẽ được xác định thông qua việc sử dụng các phương pháp hợp lý, phù hợp với các nguyên tắc và các quy định chung của Hiệp định này và của Điều VII GATT 1994 và trên cơ sở các dữ liệu sẵn có tại nước nhập khẩu.

    2. Không một giá trị thuế quan nào được xác định theo các quy định của Điều này dựa trên cơ sở:

    (a) giá bán tại nước nhập khẩu của hàng hóa sản xuất tại nước đó;

    (b) một hệ thống cho phép chấp nhận giá trị cao hơn trong hai giá trị lựa chọn vì mục đích thuế quan;

    (c) giá hàng hóa trên thị trường nội địa của nước nhập khẩu;

    (d) chi phí sản xuất ngoài giá trị tính toán đã được xác định đối với hàng hóa giống hệt hoặc tương tự theo các qui định tại Điều 6;

    (e) giá của hàng hóa xuất khẩu sang một nước khác không phải là nước nhập khẩu;

    (f) trị giá thuế quan tối thiểu; hoặc

    (g) các giá trị tuỳ tiện hoặc không có thực.

    3. Nếu nhà nhập khẩu yêu cầu, người nhập khẩu sẽ được thông báo bằng văn bản về trị giá thuế quan được xác định trên cơ sở các qui định của Điều này và phương pháp đã sử dụng để xác định trị giá đó.

    Điều 8

    1. Khi xác định trị giá thuế quan theo các qui định của Điều 1, cần phải tính thêm vào giá thực sự đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng hóa nhập khẩu:

    (a) các khoản sau, mà trong chừng mực nào đó người bán đã phải chịu nhưng không bao gồm trong giá đã thực sự thanh toán hoặc phải thanh toán cho lô hàng:

    (i) tiền hoa hồng và môi giới, trừ tiền môi giới mua hàng;

    (ii) chi phí thùng gửi hàng được coi như chi phí nhằm mục đích thuế quan với hàng hóa được đề cập ở đây;

    (iii) các chi phí đóng gói cho lao động hoặc vật liệu;

    (b) giá trị, đã phân bổ hợp lý, của các hàng hóa và dịch vụ sau đây mà người bán đã trực tiếp hoặc gián tiếp dành cho người mua không lấy tiền hoặc với giá thấp, để sử dụng trong sản xuất và bán để xuất khẩu các hàng hóa nhập khẩu đó, tới mức độ/phạm vi mà giá trị như vậy chưa được gộp trong giá đã thanh toán hoặc phải thanh toán.

    (i) vật liệu, cấu kiện, phụ tùng và các thứ tương tự khác đã nằm trong hàng hóa nhập khẩu đó;

    (ii) các dụng cụ, khuôn mẫu và các loại tương tự dùng trong sản xuất hàng nhập khẩu đó;

    (iii) vật liệu đã sử dụng trong sản xuất hàng nhập khẩu đó;

    (iv) việc lao vụ kỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, sơ đồ và phác thảo được làm bên ngoài nước nhập khẩu và cần thiết cho việc sản xuất của hàng hóa nhập khẩu.

    (c) tiền bản quyền, tiền giấy phép sử dụng bằng sáng chế liên quan đến hàng hóa mà người mua phải trả, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp, như là một điều kiện của việc bán hàng hóa đang được định giá, trong chừng mực mà tiền bản quyền, tiền giấy phép sử dụng bằng sáng chế đó không bao gồm trong giá đã thanh toán hoặc phải thanh toán.

    (d) giá trị của bất cứ phần nào trong số tiền thu được sau này mà người bán sẽ được hưởng một cách gián tiếp hoặc trực tiếp từ việc: bán lại, nhượng lại, hoặc sử dụng hàng hóa nhập khẩu đó.

    2. Khi xây dựng luật pháp quốc gia, các nước Thành viên sẽ quy định việc loại ra hay đưa vào trị giá thuế quan, tất cả hoặc một phần các yếu tố sau:

    (a) chi phí vận chuyển hàng hóa nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu;

    (b) chi phí xếp hàng, dỡ hàng và chi phí làm hàng liên quan đến vận chuyển hàng hóa nhập khẩu tới cảng hoặc địa điểm nhập khẩu; và

    (c) chi phí bảo hiểm.

    3. Các khoản tính thêm vào giá hàng đã thanh toán hoặc phải thanh toán theo Điều này cần phải dựa trên dữ liệu khách quan và có thể định lượng được.

    4. Ngoài các khoản đã qui định trong Điều này, khi xác định trị giá thuế quan không được tính thêm các khoản khác vào giá hàng đã thanh toán hoặc phải thanh toán.


    Điều 9

    1. Khi cần chuyển đổi tiền tệ để xác định trị giá thuế quan, thì tỷ giá chuyển đổi được sử dụng phải là tỷ giá do các cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có liên quan công bố một cách hợp lệ và phải phản ánh xác thực nhất, trong thời gian hiệu lực của văn bản công bố, giá trị hiện hành của đồng tiền đó trong các giao dịch thương mại tính theo giá trị đồng tiền của nước nhập khẩu.

    2. Tỷ giá chuyển đổi sẽ được sử dụng đó cần phải có hiệu lực vào thời điểm xuất khẩu hoặc thời điểm nhập khẩu mà mỗi nước Thành viên đã qui định.

    Điều 10

    Các thông tin mang tính chất bí mật hoặc được cung cấp trên cơ sở bí mật nhằm mục đích định giá thuế quan cần được các cơ quan thẩm quyền có liên quan xử lý như các thông tin tối mật, tuyệt đối không được để lộ ra ngoài mà không được phép cụ thể của cá nhân hoặc chính phủ cung cấp thông tin đó, trừ trường hợp và trong chừng mực thông tin đó được yêu cầu phải tiết lộ trong bối cảnh các thủ tục tư pháp.

    Điều 11

    1. Luật pháp của các nước Thành viên phải đảm bảo quyền kháng cáo liên quan đến các quyết định về trị giá thuế quan của người nhập khẩu hoặc bất kỳ người nào khác chịu trách nhiệm thanh toán thuế nhập khẩu mà không bị trừng phạt.

    2. Quyền kháng cáo ban đầu có thể là với nhà chức trách nằm trong cơ quan hải quan hoặc với một tổ chức độc lập mà không bị trừng phạt, nhưng luật pháp của mỗi nước Thành viên đều phải cho phép quyền kháng cáo lên một cơ quan tư pháp mà không bị trừng phạt.

    3. Thông báo quyết định giải quyết kháng cáo sẽ được gửi cho người kháng cáo và lý do đi đến quyết định đó phải được thông báo bằng văn bản. Người kháng cáo cũng phải được thông báo về các quyền kháng cáo tiếp theo.

    Điều 12

    Các luật, quy định, quyết định tư pháp và các quyết định hành chính áp dụng chung quy định hiệu lực cho Hiệp định này phải được nước nhập khẩu hữu quan công bố phù hợp với Điều X của GATT 1994.


    Điều 13

    Nếu trong quá trình định giá tính thuế hải quan của hàng nhập khẩu, mà thấy cần trì hoãn việc xác định trị giá thuế quan cuối cùng, thì người nhập khẩu hàng hóa đó vẫn có quyền lấy hàng ra khỏi cơ quan hải quan, nếu được yêu cầu thì người nhập khẩu phải đưa ra đầy đủ bảo đảm dưới hình thức bảo lãnh, tiền đặt cọc hoặc các công cụ bảo lãnh thích hợp khác, đảm bảo có thể thanh toán tối đa thuế nhập khẩu mà hàng hóa đó có khả năng phải chịu. Luật pháp của mỗi nước quy định trường hợp nêu trên.

    Điều 14

    Các ghi chú tại Phụ lục I của Hiệp định này là một phần không tách rời của Hiệp định, và các quy định của Hiệp định này phải được hiểu và áp dụng cùng với các ghi chú tương ứng. Phụ lục II và III cũng là một phần không tách rời của Hiệp định.

    Điều 15

    1. Trong Hiệp định này:

    (a) "trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu" là trị giá của hàng hóa phục vụ cho mục đích đánh thuế nhập khẩu theo trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu;

    (b) "nước nhập khẩu" là nước hoặc lãnh thổ hải quan nơi nhập khẩu; và

    (c) "được sản xuất" bao gồm được trồng trọt, được chế tạo và được khai mỏ.

    2. Trong Hiệp định này:

    (a) "hàng hóa giống hệt" là hàng hóa như nhau về mọi phương diện, bao gồm các đặc điểm vật lý, chất lượng, và danh tiếng. Một số khác nhau nhỏ về hình thức bên ngoài không làm cho một hàng hóa, mà về các mặt khác tuân thủ với định nghĩa trên, bị coi không phải là hàng hóa giống hệt;

    (b) "hàng hóa tương tự" là hàng hóa mà mặc dù không giống nhau về mọi phương diện nhưng, có các đặc điểm tương tự và vật liệu cấu thành tương tự cho phép chúng thực hiện được cùng chức năng và có khả năng thay thế cho nhau về mặt thương mại. Chất lượng, danh tiếng của hàng hóa và sự hiện hữu của nhãn hiệu thương mại là các yếu tố được cân nhắc khi xác định hàng hóa có phải là tương tự hay không;

    (c) các thuật ngữ “hàng hóa giống hệt” và “hàng hóa tương tự” không bao gồm, tuỳ trường hợp cụ thể, hàng hóa có cấu thành hoặc phản ánh lao vụ kỹ thuật, mỹ thuật ứng dụng, thiết kế, sơ đồ và phác thảo chưa được điều chỉnh theo điểm 1(b)(iv) Điều 8 vì những yếu tố đó được tiến hành tại nước nhập khẩu;

    (d) hàng hóa không được coi là “giống hệt” hoặc “tương tự” trừ khi được sản xuất tại cùng một nước như hàng hóa đang được định giá;

    (e) hàng hóa do một người khác sản xuất chỉ được xét tới nếu không có hàng hóa giống hệt hoặc tương tự như hàng hóa đang được định giá, tuỳ trường hợp cụ thể, của cùng một người sản xuất.

    3. Trong Hiệp định này, “hàng hóa cùng phẩm cấp và chủng loại” là hàng hóa nằm trong một loại hoặc một nhóm hàng do một ngành công nghiệp hoặc một lĩnh vực công nghiệp cụ thể nào đó sản xuất, bao gồm cả các hàng hóa giống hệt hoặc tương tự.

    4. Theo Hiệp định này, những người bị coi là có liên hệ chỉ khi:

    (a) họ là các viên chức hoặc các giám đốc chéo giữa các doanh nghiệp;
    (b) họ đã được pháp luật coi là các đối tác trong cùng doanh nghiệp;
    (d)(c) họ là người sử dụng lao động và người lao động;
    (f)(d) bất kỳ người nào trực tiếp hoặc gián tiếp kiểm soát hoặc nắm từ 5% trở lên cổ phần có quyền biểu quyết đang lưu hành của cả hai doanh nghiệp;
    (h)(e) một người trong số họ trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển người kia;
    (j)(f) họ cùng bị một người thứ ba trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển; hoặc
    (l)(g) họ cùng trực tiếp hoặc gián tiếp điều khiển một người thứ ba;
    (n)(h) là thành viên của cùng một gia đình.
    5. Những người có quan hệ trong kinh doanh, mà trong đó, một người là đại lý độc quyền, nhà phân phối độc quyền, hoặc người được nhượng quyền độc nhất, sẽ được coi là người có liên hệ theo Hiệp định này, nếu họ thuộc các tiêu chí trong khoản 4.

    Điều 16

    Khi có yêu cầu bằng văn bản, nhà nhập khẩu có quyền được cơ quan hải quan nước nhập khẩu trả lời bằng văn bản giải thích về việc cơ quan hải quan đã làm thế nào để xác định trị giá thuế quan của hàng hóa nhập khẩu.

    Điều 17

    Không có quy định nào trong Hiệp định này được hiểu là nhằm hạn chế hoặc nghi ngờ quyền của cơ quan hải quan trong việc tự chứng minh về tính đúng đắn và tính chính xác của bất kỳ một báo cáo, văn bản hoặc tuyên bố nào đã được đưa ra nhằm mục đích định giá thuế quan.





    PHần II

    quản lý, Tham vấn và Giải quyết tranh chấp

    Điều 18

    Các thể chế

    1. Nay thành lập một Uỷ ban về định giá thuế quan (trong Hiệp định này gọi là Uỷ ban) gồm đại diện của mỗi Thành viên. Uỷ ban bầu ra Chủ tịch Uỷ ban và thông thường sẽ họp mỗi năm một lần, hoặc theo các quy định có liên quan của Hiệp định này, nhằm mục đích cho phép các nước thành viên có cơ hội tham vấn về các vấn đề có liên quan đến điều hành hệ thống định giá thuế quan của bất kỳ nước Thành viên nào bởi vì Uỷ ban này có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động của Hiệp định hoặc thúc đẩy các mục đích và thực hiện các nghĩa vụ khác mà các nước Thành viên có thể giao phó. Ban Thư ký WTO sẽ đóng vai trò thư ký của Uỷ ban này.

    2. Nay thành lập Uỷ ban kỹ thuật về định giá thuế quan (trong Hiệp định này được gọi là "Uỷ ban kỹ thuật"), hoạt động dưới sự bảo trợ của Hội đồng hợp tác hải quan (trong Hiệp định này gọi tắt là "CCC"). Uỷ ban sẽ thực hiện trách nhiệm được quy định trong Phụ lục II của Hiệp định này và hoạt động theo các quy tắc về thủ tục quy định tại Phụ lục đó.


    Điều 19

    Tham vấn và giải quyết tranh chấp

    1. Trừ trường hợp nêu dưới đây, Bản diễn giải về giải quyết tranh chấp được áp dụng để tham vấn và giải quyết các tranh chấp theo Hiệp định này.

    2. Nếu bất kỳ Thành viên nào cho rằng lợi ích mà họ đang hưởng, trực tiếp hoặc gián tiếp, theo Hiệp định này, đang bị vô hiệu hóa hoặc phương hại, hoặc việc đạt được các mục đích của Hiệp định này đang bị cản trở, vì hành động của một Thành viên hoặc các Thành viên khác, thì có thể yêu cầu tham vấn với Thành viên hoặc các Thành viên đó nhằm đạt được giải pháp thoả mãn tất cả các bên liên quan. Các Thành viên cần phải dành sự quan tâm ủng hộ đối với các yêu cầu tham vấn của các Thành viên khác.

    3. Khi có yêu cầu, Uỷ ban kỹ thuật sẽ tư vấn và hỗ trợ các Thành viên tham gia các cuộc tham vấn.

    4. Theo yêu cầu của một bên trong tranh chấp, hoặc tự mình đề xuất, một ban hội thẩm, được thành lập để xem xét tranh chấp liên quan đến các quy định của Hiệp định này, có thể yêu cầu Uỷ ban Kỹ thuật tiến hành xem xét bất kỳ một vấn đề nào đòi hỏi có sự cân nhắc về mặt kỹ thuật. Ban hội thẩm phải quyết định các điều khoản tham chiếu của Uỷ ban kỹ thuật cho tranh chấp cụ thể đó và đặt ra thời hạn mà Uỷ ban kỹ thuật phải nộp báo cáo. Ban hội thẩm sẽ cân nhắc đến báo cáo này của Uỷ ban kỹ thuật. Trong trường hợp Uỷ ban kỹ thuật không đạt được đồng thuận về một vấn đề đã được chuyển đến cho họ xem xét theo quy định tại khoản này, thì ban hội thẩm cần tạo điều kiện cho các bên tranh chấp có cơ hội để trình bày quan điểm của mình về vấn đề đó trước ban hội thẩm.

    5. Các thông tin bí mật được cung cấp cho ban hội thẩm không được phép tiết lộ ra ngoài nếu không có sự cho phép chính thức của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan hữu trách đã cung cấp các thông tin đó. Trong trường hợp thông tin do ban hội thẩm yêu cầu nhưng ban này không được phép tiết lộ, thì có thể cung cấp bản tóm tắt không mang tính chất bí mật thông tin đó nếu được phép của cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan hữu trách cung cấp thông tin đó.

    PHần III

    Đối xử đặc biệt và khác biệt

    Điều 20

    1. Các Thành viên đang phát triển không phải là Thành viên ký kết Hiệp định về Thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ngày 12 tháng 4 năm 1979 có thể trì hoãn việc áp dụng các quy định của Hiệp định này trong thời hạn không quá 5 năm kể từ ngày Hiệp định WTO có hiệu lực đối với các Thành viên đó. Thành viên đang phát triển khi lựa chọn trì hoãn việc áp dụng Hiệp định này sẽ thông báo hợp lệ với Tổng giám đốc WTO.

    2. Ngoài khoản 1 nói trên, các thành viên đang phát triển không phải là thành viên ký kết Hiệp định về Thực hiện Điều VII của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại ngày 12 tháng 4 năm 1979 có thể trì hoãn việc áp dụng điểm 2(b)(iii) Điều 1 và Điều 6 trong thời hạn không quá 3 năm sau khi áp dụng tất cả các quy định khác của Hiệp định này. Khi quyết định trì hoãn việc áp dụng các quy định cụ thể trong khoản này các nước thành viên đang phát triển phải thông báo với Tổng giám đốc WTO.

    3. Các thành viên phát triển sẽ cung cấp, với các điều kiện do hai bên thoả thuận, trợ giúp kỹ thuật cho các thành viên đang phát triển nếu các nước này yêu cầu. Trên cơ sở đó, các Thành viên phát triển sẽ xây dựng các chương trình trợ giúp kỹ thuật, ngoài các hỗ trợ khác, có thể bao gồm: đào tạo nhân viên, hỗ trợ chuẩn bị các biện pháp thực thi, tiếp cận các nguồn thông tin liên quan đến phương pháp định giá thuế quan, và tư vấn cho việc áp dụng các quy định của Hiệp định này.


    Phần IV

    các quy định cuối cùng

    Điều 21

    Bảo lưu

    Những bảo lưu đối với các quy định của Hiệp định này không được phép thực hiện nếu không có sự đồng ý của các nước Thành viên khác.


    Điều 22

    Pháp luật quốc gia

    1. Các Thành viên phải đảm bảo sự phù hợp của các luật, quy định và các thủ tục hành chính với các các quy định của Hiệp định này không muộn hơn ngày Thành viên đó áp dụng các quy định của Hiệp định này.

    2. Mỗi Thành viên phải thông báo cho Uỷ ban về bất kỳ sự thay đổi nào trong các luật và quy định của mình liên quan đến Hiệp định này cũng như việc thực thi các luật và các quy định đó.

    Điều 23

    Rà soát

    Hàng năm, Uỷ ban phải kiểm điểm việc thực hiện và vận hành của Hiệp định này, có xét đến các mục tiêu của Hiệp định. Hàng năm, Uỷ ban phải thông báo cho Hội đồng thương mại hàng hóa về các tiến triển trong thời gian được kiểm điểm đó.

    Điều 24

    Ban Thư ký

    Hiệp định này sẽ do Ban Thư ký WTO theo dõi, trừ các trách nhiệm đã được phân công cụ thể cho Uỷ ban kỹ thuật sẽ do Ban Thư ký Hội đồng hợp tác hải quan đảm nhiệm.


    Phụ lục I

    Giải thích

    Chú giải chung

    Trình tự áp dụng các phương pháp định giá thuế quan

    1. Các Điều từ 1 đến 7 quy định rõ trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu được xác định như thế nào theo các quy định của Hiệp định này. Các phương pháp định giá được trình bày theo một thứ tự áp dụng. Phương pháp định giá thuế quan chủ yếu được định rõ tại Điều 1 và hàng hóa nhập khẩu sẽ được định giá theo các qui định của Điều này bất cứ khi nào thoả mãn các điều kiện đưa ra trong trường hợp đó.

    2. Khi trị giá thuế quan không thể xác định được theo các qui định của Điều 1, thì trị giá này sẽ được xác định bằng cách lần lượt sử dụng các điều kế tiếp cho tới khi tìm được một điều mà trị giá thuế quan có thể xác định được. Trừ trường hợp đã nêu tại Điều 4, chỉ khi trị giá thuế quan không thể xác định được theo quy định của một Điều nào đó mới có thể áp dụng các quy định của Điều kế tiếp.

    3. Nếu người nhập khẩu không yêu cầu đảo ngược trình tự của Điều 5 và 6, thì được áp dụng thứ tự thông thường. Nếu người nhập khẩu không yêu cầu, nhưng thực tế chứng minh không thể xác định trị giá thuế quan bằng việc áp dụng Điều 6, thì trị giá thuế quan đó sẽ được xác định theo các quy định tại Điều 5, nếu có thể xác định được.

    4. Khi trị giá thuế quan không thể xác định được theo các quy định của các Điều từ 1 đến 6 thì sẽ được xác định theo các quy định của Điều 7.

    Sử dụng các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung

    1. “Các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung” là sự đồng thuận được thừa nhận hoặc sự ủng hộ lớn của cơ quan thẩm quyền trong phạm vi một nước tại một thời điểm cụ thể về cách ghi sổ kế toán như thế nào các nghĩa vụ và nguồn lực kinh tế vào tài sản có và nợ, những thay đổi nào trong tài sản có và nợ cần phải ghi sổ, phải đánh giá tài sản có, nợ và sự thay đổi của hai tài khoản này như thế nào, cần tiết lộ những thông tin gì và tiết lộ như thế nào, và cần phải lập những báo cáo tài chính nào. Những tiêu chuẩn này có thể là các nguyên tắc chỉ đạo chung đối với các áp dụng chung cũng như các thông lệ và thủ tục chi tiết.

    2. Theo Hiệp định này, cơ quan hải quan của mỗi nước Thành viên phải sử dụng các thông tin được báo cáo phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung tại nước đó và thích hợp với Điều khoản có liên quan.

    Thí dụ: việc xác định lợi nhuận thông thường và các chi phí chung theo các quy định của Điều 5 sẽ được thực hiện thông qua việc sử dụng các thông tin đã được báo cáo phù hợp với các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung của nước nhập khẩu. Ngược lại, việc xác định lợi nhuận thông thường và các chi phí chung theo các quy định của Điều 6 sẽ được thực hiện thông qua việc sử dụng các thông tin đã được báo cáo phù hợp với các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung của nước sản xuất. Một thí dụ nữa là việc xác định một yếu tố được nêu trong điểm1(b)(ii) Điều 8 tiến hành tại nước nhập khẩu, sẽ được thực hiện thông qua việc sử dụng các thông tin đã được báo cáo phù hợp với các nguyên tắc kế toán chấp nhận chung của nước đó.

    Ghi chú cho Điều I

    Giá thanh toán thực tế hoặc phải thanh toán

    1. Giá thanh toán thực tế hoặc phải thanh toán là tổng số tiền đã hoặc sẽ được người mua thanh toán cho hoặc vì lợi ích của người bán cho số hàng nhập khẩu đó. Khoản thanh toán đó không nhất thiết phải dưới hình thức tiền chuyển khoản. Việc thanh toán có thể thông qua thư tín dụng hoặc các phương tiện thanh toán có thể chuyển nhượng khác. Thanh toán có thể thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp. Thí dụ, việc thanh toán gián tiếp là khi người mua thanh toán toàn bộ hay một phần, khoản nợ mà người bán đang chịu.

    2. Các hoạt động của người mua vì lợi ích của chính mình và nằm ngoài các hoạt động mà Điều 8 cho phép điều chỉnh, không được coi là hành động thanh toán gián tiếp cho người bán, mặc dù các hành động này có thể được coi là đã làm lợi cho người bán. Do đó, khi định giá thuế quan, chi phí cho các hoạt động như vậy sẽ không được cộng vào giá thanh toán thực tế hoặc giá phải thanh toán.

    3. Trị giá thuế quan không bao gồm các chi phí hoặc các khoản phải trả sau, với điều kiện các phí này khác biệt với giá đã thanh toán hoặc giá phải thanh toán cho hàng nhập khẩu đó:

    (a) các khoản phải trả cho xây dựng, lắp ghép, lắp ráp, bảo dưỡng hoặc trợ giúp kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu, được tiến hành sau khi nhập khẩu như nhà máy, máy móc hoặc thiết bị công nghiệp;

    (b) chi phí vận chuyển sau nhập khẩu;

    (c) thuế quan và các thuế khác của nước nhập khẩu.

    4. Giá thanh toán thực tế hoặc phải thanh toán là giá cả của hàng hóa nhập khẩu. Do đó các khoản chia lợi nhuận hoặc các khoản thanh toán khác từ người mua cho người bán không liên quan tới hàng hóa nhập khẩu không phải là một phần của trị giá thuế quan.

    Điểm 1(a)(iii)

    Trong số các hạn chế mà không làm cho giá thanh toán thực tế hoặc phải thanh toán không thể chấp nhận được là các hạn chế mà không gây ảnh hưởng lớn tới giá trị của hàng hóa. Thí dụ : khi người bán yêu cầu người mua ô-tô không bán hoặc trưng bày xe đó trước một ngày đã định là ngày đánh dấu năm ra đời một kiểu xe.
    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên http://www.vksndtc.gov.vn
     
    HIỆP ĐỊNH THỰC THI ĐIỀU VII CỦA HIỆP ĐỊNH CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ THƯƠNG MẠI - GATT (1994) phần 1
    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 1 trang
     Similar topics
    -
    » Âu Cơ - Lạc Long Quân - Truyện tranh
    » Trứng gà tác hại...
    » THƠ VUI TẾU
    » TẮM RỬA CHO CHÚNG SINH ĐAU KHỔ
    » Nguyễn Du

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
    CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM :: Banking - stock :: Tài liệu của Luật ngân hàng tài chính chứng khoán và luật kinh doanh ,thương mại-
    Chuyển đến