CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM

Câu lạc bộ luật tài chính ngân hàng chứng khoán - Khoa kinh tế -luật- đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
 
Trang ChínhPortalTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
Tin Tức Pháp Luật

quanlymoitruongBáo thanh niên
quanlymoitruongUỷ ban chứng khoán nhà nước
quanlymoitruongTất cả văn bản pháp luật
quanlymoitruongLớp luật kinh doanh khoá 05
quanlymoitruongKhoa kinh tế - luật - ĐHQG.TPHCM
quanlymoitruongcảm xúc chưa đặt tên
quanlymoitruongcâu chuyện Valen...
quanlymoitruongchỉ có 1 cuộc điện
quanlymoitruongchiếc khăn tay
quanlymoitruongdanh ngôn tình yêu
quanlymoitruongduyên nợ
quanlymoitruongiu người chưa hề biết
quanlymoitruongKhi nào ấy nhớ đây
quanlymoitruonglàm sao cho ai kia hiểu
quanlymoitruonglời khuyên tình yêu
quanlymoitruonglời hẹn ước
quanlymoitruongmat tinh yeu
quanlymoitruongmón quà giáng sinh
quanlymoitruongmưa bằng lăng
quanlymoitruongmưa tình bạn
quanlymoitruongngày anh nói i love u
quanlymoitruongngày nhớ đêm mong
quanlymoitruongnhìn kìa anh iu
quanlymoitruongnơi đâu là...?
quanlymoitruongtâm lý bạn trai
quanlymoitruongtâm lý bạn gái
quanlymoitruongTấm cám 1
quanlymoitruongTấm cám 2
quanlymoitruongThơ tình
quanlymoitruongthông điệp tình yêu
quanlymoitruongthư tình
quanlymoitruongtìm kiếm tình yêu
quanlymoitruongtình yêu không lời
quanlymoitruongtình yêu tuổi mới lớn
quanlymoitruongtình yêu
quanlymoitruongtrong tình yêu


Tin Tức Chứng Khoán
  • Bảng giao dịch trực truyến HASTC
  • Hỗ Trợ Trực Tuyến
    Admin
    Chát với admin
    lienhe Liên Hệ

     
    Hỗ trợ kỹ thuật 1
    lienhe
    Hỗ trợ kỹ thuật 2
     Hỗ trợ kỹ thuật 2

    lienheHỗ trợ kỹ thuật 3   
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 3
    lienheHỗ trợ kỹ thuật 4
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 4
    Số lần truy cập

    visitor analysis


    Share | 
     

     Sự khác nhau giữa các bản hiến pháp

    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
    Tác giảThông điệp
    Linhprince

    avatar

    Tổng số bài gửi : 50
    Join date : 20/09/2010
    Age : 30
    Đến từ : Ha Noi

    Bài gửiTiêu đề: Sự khác nhau giữa các bản hiến pháp   Mon Sep 20, 2010 9:55 pm

    Sự khác nhau giữa các bản hiến pháp:


    Ngày mồng 2 tháng 9 năm 1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập. Ngay sau đó, Bác Hồ đã chỉ đạo việc bầu ra Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam non trẻ. Ngày mồng 6 tháng 1 năm 1946, cả nước đã tham gia cuộc Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên. Và 2 tháng sau, ngày mồng 2 tháng 3 năm 1946, Kỳ họp đầu tiên của Quốc Hội Khóa 1 đã họp tại Nhà Hát Lớn thành phố Hà Nội. Kỳ họp này chỉ diễn ra trong 1 ngày. Vào cuối ngày đó, Quốc hội đã bầu ra Ban dự thảo Hiến Pháp đầu tiên, gồm 11 vị, như Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Đình Thi, Cù Huy Cận, Nguyễn Thị Thục Viên, Đào Hữu Dương... Bác Hồ kiêm Trưởng ban Dự thảo hiến pháp. 8 tháng sau, vào ngày mồng 9 tháng 11 năm 1946, tại Kỳ họp thứ 2 của Quốc hội khóa 1, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên, còn gọi là Hiến pháp năm 1946.
    Từ năm 1946 đến nay, nước ta đã có thêm 3 bản Hiến pháp nữa là Hiến pháp 1959 (còn gọi là Hiến pháp 1960, vì nó được thông qua ngày cuối năm 31 tháng 12 năm 1959, và ngày hôm sau, mở đầu năm 1960, thì công bố), Hiến pháp 1980 và Hiến pháp hiện nay 1992.
    Hiến pháp 1946 rất ngắn gọn, chỉ có 70 điều, với Lời nói đầu chỉ có 26 dòng, 235 chữ. Hiến pháp thứ 2 năm 1959 có 112 điều, Lời nới đầu dài tới 127 dòng, khoảng 1500 chữ. Hiến pháp thứ 3 năm 1980 có tới 147 điều, Lời nói đầu dài tới 164 dòng, khoảng 1900 chữ. Hiến pháp hiện nay năm 1992 có 147 điều, Lời nói đầu đã gọn lại còn 52 dòng, khoảng 600 chữ.
    Điều 10 của Hiến pháp 1946 nói rất rõ về quyền công dân: - “Công dân Việt
    Nam có quyền: Tự do ngôn luận, Tự do xuất bản, Tự do tổ chức và hội họp, Tự do tín ngưỡng, Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

    Đến Hiến pháp năm 1959, Điều 25 quy định: -“Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”.

    Điều 28 quy định: - “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do cư trú và đi lại”. Hiến pháp 1959 bỏ đi quy định về “Tự do xuất bản” và “Tự do ra nước ngoài” của Hiến pháp năm 1946. Nhưng lại có tiến bộ ở quy định “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền tự đó”.

    Hiến pháp năm 1980, Điều 67 ghi về quyền công dân cũng giống như Hiến pháp năm 1959, nhưng có thêm một đoạn ràng buộc rằng các quyền đó “phù hợp với lợi ích của chủ nghĩa xã hội và nhân dân”. Phía cuối Điều 67 này còn có đoạn như cảnh cáo: “Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của nhân dân”.

    Hiến pháp năm 1992 cũng quy định về quyền công dân như Hiến pháp 1959 và 1980, nhưng không có quy định về “Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó”. Và điều đặc biệt ở Hiến pháp 1992, là ở các quy định về quyền công dân, thường có các đoạn kết ràng buộc “theo quy định của pháp luật”. Điều đó có nghĩa là Hiến pháp phải tuân theo luật pháp. Như thế là trái với bản chất của Hiến pháp. Bản chất của Hiến pháp là đạo luật gốc, là đạo luật đứng trên tất cả các đạo luật, mọi đạo luật ban hành ra đều phải tuân theo Hiến pháp. Nếu luật ban hành trái Hiến pháp thì luật đó không có giá trị, phải bị hủy bỏ. Đó là bản chất của Hiến pháp.

    Hiến pháp 1946 không hề có quy định nào như thế. Khi cần một đạo luật để thi hành các quy định của Hiến pháp, thì Hiến pháp 1946 viết như sau, ví dụ ở Điều 61: - “Nhân viên Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính có thể bị bãi miễn. Cách thức bãi miễn sẽ do luật định”. Viết như thế này, là luật phải tuân theo Hiến pháp. Nhưng viết như Hiến pháp 1992, ví dụ như Điều 69: - “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, biểu tình theo quy định của pháp luật”, thì có nghĩa là Hiến pháp phải tuân theo luật. Thậm chí tuân theo nghị định, thông tư…

    Hiến pháp 1946 quy định: “Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình nhà nước” - Điều 15. Các Hiến pháp sau của ta đều không có quy định này.

    Điều 45 của Hiến pháp 1946 quy định: “Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa chọn trong Nghị viện nhân dân”, tức trong Quốc hội. Điều 47 quy định “Chủ tịch nước Việt Nam chọn Thủ tướng trong Nghị viện”. Và “Thủ tướng chọn các bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết toàn thể danh sách”. Hiện nay việc bầu chọn lãnh đạo đều do Đảng làm, và chỉ đưa ra mỗi chức danh 1 ứng cử viên để Quốc hội bầu. Chủ tịch nước không được quyền chọn Thủ tướng và Thủ tướng không được quyền chọn bộ trưởng. Chủ tịch nước, Thủ tướng chỉ làm người giới thiệu các ứng cử viên.

    Điều 54 Hiến pháp 1946 quy định: “Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức.... Nội các mất tín nhiệm thì phải từ chức”. Hiến pháp hiện nay không có quy định này.

    Việc sửa đổi Hiến pháp cũng được Hiến pháp 1946 quy định theo nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân. Điều 70, điều cuối cùng, quy định về Sửa đổi Hiến pháp: “Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Hiến pháp hiện nay không có quy định này. Hiện nay nhân dân cũng được tham gia thảo luận, góp ý cho việc xây dựng Hiến pháp, nhưng mang nặng tính hình thức.

    Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều chuyên gia làm luật của ta đã nhận định: “Hiến pháp 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, là một bản Hiến pháp dân chủ, tiến bộ không kém một bản Hiến pháp nào trên thế giới. Nó là bản Hiến pháp mẫu mực trên nhiều phương diện”. Cho đến hiện nay, không có bất cứ ý kiến nào nói bản Hiến pháp 1946 là lạc hậu.

    Rất tiếc do nhưng điều kiện lịch sử, nên bản Hiến pháp 1946 đã chưa được công bố thi hành, hoặc chỉ được thi hành với một số nội dung, trong một thời gian ngắn.
    Hiện nay Đảng đang lãnh đạo nhân ta tiếp tục con đường đổi mới. Nhìn lại bản Hiến pháp 1946 để thấy trong sự nghiệp đổi mới, luôn luôn có tính kế thừa và rất nhiều điểm tiến bộ trong Hiến pháp 1946 cần phải được xem xét để có những vận dụng táo bạo. Nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ với thế giới thì bản Hiến pháp dân chủ và tiến bộ này càng cần phải được đưa ra trưng cầu ý kiến nhân dân, chắc sẽ có nhiều ý kiến tốt.
    Mong Quốc hội đổi mới hoạt động để gần dân, hiểu dân
    09:36' 20/07/2007 (GMT+7)
    Mỗi một nhiệm kỳ Quốc hội, với thời gian, đều có những chuyển biến. Và cũng là sự tiếp nối tất yếu của các nhiệm kỳ trước nhưng Quốc hội khoá XII (nhiệm kỳ 2007 - 2012) lại có ý nghĩa lớn và nhiệm vụ rất quan trọng. Đây chính là điểm khởi đầu của nhiều cột mốc mới, là thời kỳ cất cánh… Thời cơ, vận hội, thách thức mới đã, đang đặt ra nhiều trọng trách nặng nề đòi hỏi Quốc hội phải tiếp tục đổi mới để đáp ứng kỳ vọng của hơn 83 triệu cử tri cả nước.

    Về cơ cấu tổ chức

    Chúng tôi cho rằng, tiếp tục kiện toàn Quốc hội, các cơ quan thuộc Quốc hội (UB Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các uỷ ban Quốc hội) phải được coi là nhiệm vụ cần kíp vì mỗi cơ quan Quốc hội dù được tổ chức theo từng lĩnh vực chính sách, hoạt động theo từng lĩnh vực chuyên môn nhưng hầu hết đều thực hiện cùng lúc ba chức năng thẩm tra, kiến nghị và giám sát nên thực tế mỗi cơ quan luôn đứng trước sức ép rất lớn về khối lượng công việc.

    Dù rằng trong phiên họp kết thúc nhiệm kỳ vừa qua, chúng ta đã thống nhất sửa đổi Luật Tổ chức Quốc hội theo hướng thành lập mới các UB Pháp luật, UB Tư pháp, UB Kinh tế và UB Tài chính - Ngân sách trên cơ sở tách UB Pháp luật, UB Kinh tế và Ngân sách hiện hành. Song, việc tổ chức lại các uỷ ban khác của Quốc hội (như UB về các vấn đề xã hội, UB Văn hóa Giáo dục, UB Đối ngoại, UB Quốc phòng và An ninh...) cũng như việc thành lập thêm các uỷ ban mới (như UB Kiểm toán, UB Dân nguyện hoặc Thanh tra Quốc hội), theo chúng tôi, vẫn là cấp thiết. Kinh nghiệm các nước cho thấy xây dựng vững mạnh các ủy ban thuộc Nghị viện (Quốc hội) là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của tổ chức đó.

    Kiện toàn các cơ quan Quốc hội nhưng đồng thời phải bảo đảm về cơ cấu số lượng thành viên các cơ quan. Ngày nay, trong xu hướng các vấn đề xã hội ngày càng chuyên biệt hóa thì việc chuyên môn hóa một bước các cơ quan thuộc Quốc hội cũng là tất yếu.

    Để đáp ứng tiêu chí này, mong rằng việc lựa chọn thành viên các cơ quan Quốc hội cần thiết phải dựa vào chuyên môn, đồng thời giới hạn lại số thành viên từng ủy ban để phát huy năng lực và bảo đảm sự hợp tác hữu hiệu giữa các thành viên đó. (Nếu cứ giữ nguyên số lượng thành viên mỗi UB Quốc hội - trung bình từ 30 đến 40 như hiện nay, e rằng cùng với việc thành lập thêm các ủy ban mới, Quốc hội sẽ phải đứng trước những nan giải trong việc đảm bảo số đại biểu hoạt động chuyên trách của mình).

    Ngoài ra, xác định lại vị trí, nhiệm vụ và quyền hạn các cơ quan thuộc Quốc hội theo hướng hợp lý, tránh chồng chéo và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong hoạt động cũng là một trong những nội dung trọng yếu, hi vọng sớm được đặt ra tại nghị trường Quốc hội trong nhiệm kỳ mới.

    Đối với đại biểu Quốc hội, sự kì vọng của cử tri với từng đại biểu cũng rất lớn. Bởi vậy, ngay từ đầu nhiệm kỳ, Quốc hội khóa XII sẽ hoạch định rõ phương cách hoạt động để những người đại diện đủ điều kiện phát huy năng lực và trách nhiệm của mình.

    Trong trong bối cảnh hội nhập, mỗi đại biểu nhất thiết phải là một chính khách, mẫn tiệp và phải thật sự là những công dân ưu tú. Trách nhiệm, tận tâm, tăng cường đối thoại, gần dân và dành thời gian thích đáng tiếp xúc cử tri là những tố chất cần được nhân lên, đề cao ở từng đại biểu. Mặt khác, để đáp ứng yêu cầu mới, thiết tưởng cần tăng số đại biểu chuyên trách hiện nay lên ít nhất 30% và phát huy tốt hơn vai trò đại biểu - đoàn đại biểu Quốc hội.

    Đổi mới về hoạt động

    Trong xây dựng pháp luật, chúng tôi hi vọng cơ quan quyền lực cao nhất nước có kế hoạch và giải pháp căn cơ nhằm giải quyết thấu đáo các vấn đề sau:

    Thứ nhất, đổi mới qui trình lập pháp nhằm nâng cao số lượng và chất lượng văn bản luật. Nếu như ở các nước phát triển, một dự luật thường được thông qua hai lần ở hai cơ quan Nghị viện (Hạ viện và Thượng viện) khác nhau thì ở nước ta, chu trình đó chỉ là một nên tính ổn định cũng như chất lượng các văn bản luật cần phải được xem xét cải tiến cách làm mới có thể đáp ứng được..

    Để khắc phục nhược điểm này, thiết nghĩ Quốc hội cần đổi mới qui trình lập pháp theo trình tự logic, trong đó trách nhiệm cơ quan chủ trì soạn thảo với các cơ quan hữu quan trong quy trình làm luật được phân định rạch ròi. Hoàn thiện khâu chỉnh lý dự thảo văn bản; công khai các dự luật và tạo cơ chế tiếp thu sáng kiến của đại biểu, những dự án luật do đại biểu Quốc hội đệ trình; tạo điều kiện để nhân dân tham gia vào qui trình làm luật thông qua hình thức trưng cầu dân ý; tham khảo, lấy ý kiến cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan ngay từ giai đoạn đầu… cũng là những nội dung cần được Quốc hội khoá mới quan tâm thấu đáo để khắc phục hạn chế trong quá trình xây dựng pháp luật.

    Thứ hai, phải bám sát cuộc sống, lấy thực tiễn làm “thước đo” trong quá trình xây dựng luật.
    Để đảm bảo tính khả thi của văn bản pháp luật, trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XI, có thể thấy tốc độ làm luật đã có bước đột phá đáng ghi nhận nhưng số dự luật phải sửa đổi bổ sung lại cũng khá cao. Rõ ràng là hiệu quả điều chỉnh của pháp luật hiện vẫn là vấn đề đáng quan ngại. Giải pháp nào để tháo gỡ vướng mắc đó? C.Mác từng nói: Nhà làm luật chỉ như nhà thực nghiệm tự nhiên, họ không làm ra luật mà chỉ gơi lên hiện thực khách quan. Để luật không còn “bị treo” và phát huy tác dụng, không còn cách nào khác là nhà làm luật phải bám sát cuộc sống, lấy thực tiễn làm “thước đo” trong quá trình xây dựng luật.

    Trong bối cảnh hôm nay, việc khai thông dòng chảy và đưa các quan hệ xã hội vào hàng lối; kết hợp hài hòa giữa yếu tố lợi ích Nhà nước, xã hội, cá nhân; đặc điểm lịch sử văn hóa cộng đồng; kết hợp mối quan hệ tương thích giữa pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế; giảm luật khung, hạn chế tình trạng chờ thông tư, nghị định hướng dẫn… cũng là những điểm nhấn hi vọng được Quốc hội khóa XII lưu tâm hơn để bảo đảm tính khả thi của pháp luật.

    Thứ ba, nâng cao năng lực và trình độ làm luật của Quốc hội, đại biểu Quốc hội. Tạo cơ chế khuyến khích đại biểu Quốc hội thực hiện quyền sáng kiến lập pháp; khuyến khích các hiệp hội, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội nghề nghiệp, chuyên gia giỏi tham gia nghiên cứu, soạn thảo và thẩm định các dự án luật; lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cụ thể, có trọng điểm; Đẩy mạnh hoạt động giải thích luật, pháp lệnh… là những nhiệm vụ cần sớm được Quốc hội nhiệm kỳ mới quan tâm thấu đáo.

    Thứ tư, trong công tác giám sát, cử tri cũng như nhiều nhà chuyên môn cho rằng hiện nay, quyền giám sát của Quốc hội vẫn còn ở thế “cưỡi ngựa xem hoa”, thiếu chiều sâu, nặng chiều rộng. Hi vọng trong nhiệm kỳ mới, vai trò giám sát của Quốc hội được xác định thực chất hơn với cơ chế giám sát phù hợp, chặt chẽ, hiệu quả hơn.

    Cùng với việc phân định lại thẩm quyền chủ thể giám sát (không chỉ là quyền giám sát tối cao của Quốc hội với quyền giám sát của các tổ chức chính trị xã hội mà còn ngay giữa Quốc hội với các cơ quan tổ chức của mình nhằm tránh sự chồng chéo trong giám sát), thiết nghĩ, cần tiếp tục cải tiến hình thức giám sát theo hướng mở rộng dân chủ và xác định rõ vai trò pháp lý của hoạt động giám sát trên cơ sở áp dụng cụ thể các chế tài, nhất là trong chất vấn. Bởi mục đích của hoạt động này không gì khác hơn là làm rõ trách nhiệm để từ đó có thể qui kết trách nhiệm đối với cá nhân, cơ quan bị chất vấn.

    Thứ năm, về vai trò quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Còn nhớ tại phiên họp cuối cùng Quốc hội khóa XI, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An thừa nhận: “Quốc hội chưa thật sự mạnh để làm tốt nhiệm vu, quyền hạn. Chất lượng quyết định vấn đề quan trọng của đất nước chưa cao”.

    Xuất phát từ địa vị pháp lý của Quốc hội, chúng tôi kì vọng cơ quan quyền lực cao nhất nước, cơ quan đại biểu của dân trong nhiệm kỳ mới sẽ được đặt đúng vị trí, tiếp tục gia tăng quyền lực và tạo được dấu ấn trong việc thực thi quyền quyết định của mình.

    Trong bối cảnh chúng ta vừa có những cam kết quốc tế về đẩy mạnh cải cách hành chính, nên chăng Quốc hội cần tăng cường mọi hình thức thu hút trí tuệ, đổi mới hình thức tiếp xúc cử tri, phát huy dân chủ và công khai minh bạch trong mọi hoạt động để có điều kiện thực thi tốt trọng trách đặc biệt này? Đương nhiên, để tạo ra những chuyển biến đáng kể, trước tiên cần tạo cơ chế để Quốc hội thực quyền trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ.

    Kế thừa thành quả và đúc rút kinh nghiệm từ nhiệm kỳ Quốc hội các khóa trước, chúng tôi hi vọng Quốc hội khoá XII sẽ chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu - tổ chức, chất lượng hoạt động tiếp tục được đổi mới, nâng cao, đáp ứng đòi hỏi của tiến trình phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới. Đó là kì vọng của hơn 83 triệu cử tri và cũng chính là thông điệp đầy ý nghĩa để Quốc hội khẳng định đúng vị thế, vai trò của mình là cơ quan đại biểu cao nhất của dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, một thiết chế dân chủ hiện đại.

    ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ X
    Góp ý Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội X của Đảng
    Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ để cải cách nền hành chính quốc gia
    Trong hai mươi năm đổi mới đất nước, Đảng luôn luôn đề ra phương hướng, biện pháp đổi mới và hoàn thiện nhà nước, trong đó nhấn mạnh vấn đề đổi mới toàn diện, sâu sắc nền hành chính quốc gia. Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X sắp tới cũng đề cập đến vấn đề cải cách hành chính, xác định các phương hướng, biện pháp cơ bản để cải cách hành chính nhưng cần phải xây dựng phương hướng, biện pháp đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn về cải cách hành chính quốc gia, trong đó cần thật sự và hết sức khách quan đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, vì Chính phủ là đầu tàu kéo theo sự vận hành của toàn bộ hệ thống hành chính nhà nước.
    • Tổ chức lại Chính phủ
    Chính phủ đương nhiệm có 1 Thủ tướng, 3 Phó Thủ tướng, 20 bộ, 6 cơ quan ngang bộ và hơn 10 cơ quan trực thuộc Chính phủ (trên 40 thành phần). Nếu so với thời kỳ bao cấp thì bộ máy của Chính phủ được tinh gọn hơn (nhưng chỉ tinh gọn hơn một chút) và nếu so sánh với các quốc gia trên thế giới thì Chính phủ Việt Nam có lẽ được xếp vào một trong số ít quốc gia có bộ máy cồng kềnh và nhiều bộ nhất.
    Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX xác định chủ trương xây dựng “Bộ đa năng”, “Bộ đa lĩnh vực”, “Bộ đa ngành” và giảm bớt các cơ quan trực thuộc Chính phủ, giao về cho bộ quản lý theo tính chất chuyên môn nhưng trên thực tế Chính phủ hiện nay (Chính phủ được thành lập sau Đại hội IX của Đảng) lại tăng thêm 4 bộ nâng tổng số bộ, cơ quan ngang bộ lên đến 26 chứ không giảm về cơ cấu như nghị quyết Đảng với phương hướng cải cách bộ máy nhà nước.
    Tinh gọn bộ máy nhà nước thì trước hết phải tinh gọn bộ máy Chính phủ vì Chính phủ là đầu tàu, là bộ não chỉ huy nền hành chính quốc gia chứ không phải là trung tâm thực hành quản lý hành chính, không phải là cơ quan trực tiếp điều hành quản lý hành chính, cơ quan giải quyết sự vụ hành chính.
    Chính phủ nên được cơ cấu lại: Giảm bớt số lượng Phó Thủ tướng để tập trung quyền chỉ huy vào Thủ tướng, nâng cao quyền hạn của Thủ tướng nhưng cũng cột chặt được trách nhiệm của Thủ tướng, giảm bớt số lượng bộ và cơ quan trực thuộc Chính phủ như một số nước trên thế giới để Thủ tướng “rảnh rang” chỉ huy hành chính... Chính phủ là cơ quan đứng đầu hệ thống hành chính, bộ chỉ huy thì càng gọn nhẹ càng hiệu quả, chất lượng và hiệu quả quản lý hành chính không tỷ lệ thuận với bộ máy đông người, nhiều đầu mối mà nó phụ thuộc vào năng lực quản lý, cơ chế hoạt động và trật tự, kỷ luật quản lý.
    • Giảm bớt việc ban hành pháp luật, tập trung vào điều hành, chỉ huy, kiểm tra, thị sát
    Trong tổ chức lao động quyền lực nhà nước ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải có sự phân công hợp lý. Ở Việt Nam cũng như hầu hết các nước trên thế giới đều giao cho Quốc hội thực hiện nhiệm vụ lập pháp và giao cho Chính phủ thực hiện nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật (Quốc hội là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan hành pháp).
    Nhưng trên thực tế đến nay Quốc hội mới ban hành trên 200 luật mà luật của Quốc hội không quy định cụ thể, chi tiết và giao cho Chính phủ quy định chi tiết bằng nghị định rồi tiếp đó bộ ra thông tư quy định chi tiết các quy định trong Nghị định của Chính phủ. Như vậy luật ra đời nhưng có nhiều vấn đề không thể thi hành được nếu chưa được Chính phủ ban hành “Luật quy định luật”, thậm chí chưa có thông tư của bộ, luật của Quốc hội cũng không có hiệu lực trên thực tế.
    Chính phủ là cơ quan hành chính, bộ cũng là cơ quan hành chính, khi dự thảo luật cho Quốc hội, rồi khi hướng dẫn thi hành, quy định chi tiết khó tránh khỏi tâm lý đặt ra các quy định để thực hiện việc điều hành quản lý cho dễ dàng, thuận lợi (tức là tâm lý cai trị) và đương nhiên gây bất lợi cho phía công dân, tổ chức. Với tình hình này nên có những biện pháp giảm bớt việc ban hành pháp luật của Chính phủ, bộ để Chính phủ, bộ thật sự là cơ quan hành pháp, không thể là cơ quan vừa lập pháp vừa hành pháp (tức là vừa đá bóng vừa thổi còi).
    • Không can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
    Từ khi chuyển sang thời kỳ đổi mới, Chính phủ đã có nhiều chính sách, biện pháp thực hiện quản lý kinh tế thoát dần cơ chế bao cấp nhưng vẫn còn không ít thiếu sót, bất cập. Cần đổi mới cơ chế, chính sách quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô, cần có những chính sách, biện pháp giao cho bộ trưởng chịu trách nhiệm quản lý doanh nghiệp kể cả tổng công ty từ việc quyết định thành lập, bổ nhiệm cán bộ (các công việc này trước đây được giao cho Thủ tướng thực hiện là chủ yếu nên bộ trưởng khó có thể thực hiện quản lý trực tiếp...), theo dõi, kiểm tra, xử lý, chỉ đạo, hướng dẫn các doanh nghiệp.
    Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ không quản lý trực tiếp, không can thiệp vào công việc kinh doanh, cho chỉ đạo kinh doanh cụ thể, không giải quyết các xung đột tranh chấp kinh doanh như tranh chấp giữa Viettel và Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông về phủ sóng cho điện thoại di động... Đảng có những định hướng dứt khoát để Chính phủ thực hiện đúng trách nhiệm trong quản lý kinh tế, không can thiệp, không quản lý trực tiếp các doanh nghiệp... mới phù hợp với kinh tế thị trường và phù hợp với chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền.
    • Gần dân hơn, sát dân hơn
    Ở nước ta Chính phủ, các đồng chí lãnh đạo Chính phủ có nhiều cố gắng để gần dân, sát dân như Thủ tướng mỗi năm vào đầu năm mới có buổi gặp mặt doanh nhân, hay có nhiều chuyến viếng thăm cơ sở này, nhà máy kia... nhưng chưa có quy định nào của Đảng, của pháp luật về trách nhiệm của Chính phủ trong giao tiếp với nhân dân, thực hiện “vi hành” đến dân.
    Với tư cách là chủ thể lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội, Đảng cần đưa vào đường lối chủ trương lãnh đạo bộ máy nhà nước những quy định về dân chủ hóa hoạt động của Chính phủ: Mỗi năm Thủ tướng, bộ trưởng cần có nhiều buổi giao tiếp trực tuyến với dân, trả lời trực tiếp các yêu cầu của dân trên mạng, trên truyền hình hay trong buổi giao lưu với dân tại chỗ lãnh đạo đến thăm, đến thị sát.
    Các kỳ họp của Chính phủ có liên quan đến dân sinh, liên quan đến các chính sách pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa cộng đồng, đến quyền và nghĩa vụ của công dân... cần được truyền hình trực tiếp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân được đặt câu hỏi, được thắc mắc, được nêu ý kiến kiến nghị. Đối với các chủ trương, chính sách quan trọng liên quan đến đời sống của nhân dân thì Chính phủ cần tổ chức cho đại biểu của nhân dân được phản biện, được tranh luận với Chính phủ. Dân chủ hóa hoạt động của Chính phủ là tôn trọng dân, là để dân được bàn, được trao đổi với Chính phủ.
    Luật

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên http://www.vksndtc.gov.vn
     
    Sự khác nhau giữa các bản hiến pháp
    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 1 trang
     Similar topics
    -
    » [Cặp sao nào “yêu nhau lắm, cắn nhau đau”]
    » Em xin chọn hai đường thẳng cắt nhau!!!!!!!!!!
    » "Cùng lắm chỉ như hai đường tiệm cận tiến sát tới nhau mà không bi sự đụng chạm đe doạ lẫn nhau"
    » Đừng làm đau em nữa....buông tha cho nhau đi anh nhé!
    » Giá như ta đừng vô tình bước qua nhau

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
    CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM :: Banking - stock :: Giới thiệu ngành luật tài chính ngân hàng chứng khoán - Khoa kinh tế - Luật - Đại học quốc gia TP.HCM-
    Chuyển đến