CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM

Câu lạc bộ luật tài chính ngân hàng chứng khoán - Khoa kinh tế -luật- đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh
 
Trang ChínhPortalTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập
Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Latest topics
Tin Tức Pháp Luật

quanlymoitruongBáo thanh niên
quanlymoitruongUỷ ban chứng khoán nhà nước
quanlymoitruongTất cả văn bản pháp luật
quanlymoitruongLớp luật kinh doanh khoá 05
quanlymoitruongKhoa kinh tế - luật - ĐHQG.TPHCM
quanlymoitruongcảm xúc chưa đặt tên
quanlymoitruongcâu chuyện Valen...
quanlymoitruongchỉ có 1 cuộc điện
quanlymoitruongchiếc khăn tay
quanlymoitruongdanh ngôn tình yêu
quanlymoitruongduyên nợ
quanlymoitruongiu người chưa hề biết
quanlymoitruongKhi nào ấy nhớ đây
quanlymoitruonglàm sao cho ai kia hiểu
quanlymoitruonglời khuyên tình yêu
quanlymoitruonglời hẹn ước
quanlymoitruongmat tinh yeu
quanlymoitruongmón quà giáng sinh
quanlymoitruongmưa bằng lăng
quanlymoitruongmưa tình bạn
quanlymoitruongngày anh nói i love u
quanlymoitruongngày nhớ đêm mong
quanlymoitruongnhìn kìa anh iu
quanlymoitruongnơi đâu là...?
quanlymoitruongtâm lý bạn trai
quanlymoitruongtâm lý bạn gái
quanlymoitruongTấm cám 1
quanlymoitruongTấm cám 2
quanlymoitruongThơ tình
quanlymoitruongthông điệp tình yêu
quanlymoitruongthư tình
quanlymoitruongtìm kiếm tình yêu
quanlymoitruongtình yêu không lời
quanlymoitruongtình yêu tuổi mới lớn
quanlymoitruongtình yêu
quanlymoitruongtrong tình yêu


Tin Tức Chứng Khoán
  • Bảng giao dịch trực truyến HASTC
  • Hỗ Trợ Trực Tuyến
    Admin
    Chát với admin
    lienhe Liên Hệ

     
    Hỗ trợ kỹ thuật 1
    lienhe
    Hỗ trợ kỹ thuật 2
     Hỗ trợ kỹ thuật 2

    lienheHỗ trợ kỹ thuật 3   
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 3
    lienheHỗ trợ kỹ thuật 4
     
    Hỗ trợ kỹ thuật 4
    Số lần truy cập

    visitor analysis


    Share | 
     

     Hệ thống pháp luật trên thế giới!

    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
    Tác giảThông điệp
    Linhprince

    avatar

    Tổng số bài gửi : 50
    Join date : 20/09/2010
    Age : 29
    Đến từ : Ha Noi

    Bài gửiTiêu đề: Hệ thống pháp luật trên thế giới!   Mon Sep 20, 2010 9:28 pm

    ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ KHPL 5/2002
    <!--[if !supportEmptyParas]--> <!--[endif]-->
    CÁC ĐẶC ĐIỂM KHÁI QUÁT CỦA PHÁP LUẬT TRÊN THẾ GIỚI VÀ QUÁ TRÌNH HỢP TÁC, HỘI NHẬP TRONG LĨNH VỰC PHÁP LUẬT
    <!--[if !supportEmptyParas]--> <!--[endif]-->
    VÕ KHÁNH VINH
    Tiến sĩ, Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và pháp luật, UBKHXH & NVQG
    <!--[if !supportEmptyParas]--> <!--[endif]-->
    Quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật, cũng như trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội đã và đang đặt ra hàng loạt vấn đề lý luận và thực tiễn cần được lý giải tường tận. Trên bình diện lý luận, để phục vụ cho quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật có hiệu quả, trước hết cần phải làm rõ các đặc điểm khái quát của pháp luật trên thế giới. Bởi lẽ điều đó có ý nghĩa nhận thức, lý luận và thực tiễn rất quan trọng đối với hướng “tiếp nhận” pháp luật quốc tế, pháp luật của quốc gia khác và “đưa” pháp luật của chúng ta ra bên ngoài. Đó là hai mặt biện chứng không thể thiếu được của quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật. Việc làm sáng tỏ các đặc điểm khái quát của pháp luật trên thế giới quy tụ lại ở việc làm rõ các vấn đề sau:
    1. Trong thời đại ngày nay pháp luật thể hiện sự kết hợp “yếu tố dân tộc”, “yếu tố quốc tế” và “yếu tố tự phát triển” như thế nào?
    2. Ở phạm vi toàn thế giới pháp luật có các khuynh hướng phát triển chung như thế nào?
    3. Các hệ thống pháp luật trên thế giới có sự khác biệt như thế nào?
    1. Sự kết hợp “yếu tố dân tộc”, “yếu tố quốc tế” và “yếu tố tự phát triển” trong pháp luật – cơ sở của sự hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật:
    1.1. Đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa trên thế giới ngày nay rất đa dạng, phong phú và phức tạp. Do vậy, không thể hình dung được cuộc sống của con người, của các dân tộc, của các quốc gia khi không có pháp luật. Trong thời đại ngày nay hiện tượng pháp luật đi vào đời sống của xã hội hiện đại một cách dễ dàng trông thấy và rất vững chắc, thể hiện như một giá trị của xã hội, như cái điều chỉnh hành vi của con người, như cái bảo đảm cho sự ổn định của các quan hệ xã hội, như phương tiện để tiến hành các cuộc cải cách, đổi mới và biến đổi xã hội. Bởi vậy pháp luật ngày càng được các giới khác nhau quan tâm nghiên cứu, đó không chỉ là các nhà luật học mà còn cả các nhà triết học, sử học, chính trị học, xã hội học, các nhà quản lý….
    Việc nghiên cứu làm sáng tỏ các tư tưởng pháp luật và các hệ thống pháp luật của các dân tộc và quốc gia khác nhau có mối liên hệ và tương quan với nhau như thế nào, các quan niệm pháp lý nào ở các vùng khác nhau trên thế giới có thể khái quát lại thành các đặc điểm chung đặc trưng cho bức tranh của sự phát triển pháp luật chung của cộng đồng thế giới không chỉ trở thành vấn đề mang tính cấp thiết và thời sự mà còn tạo ra cơ sở phương pháp luận cho quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật.
    1.2. Việc nghiên cứu mối tương quan và sự kết hợp “yếu tố dân tộc”, “yếu tố quốc tế” và “yếu tố tự phát triển” trong pháp luật đòi hỏi phải làm rõ chính xác hơn vấn đề về vai trò của Nhà nước trong quá trình hình thành pháp luật, dù rằng vấn đề về mối tương quan giữa Nhà nước và pháp luật đã được nghiên cứu khá kỹ lưỡng trong sách báo khoa học pháp lý. Ở đây chúng tôi muốn khẳng định rằng pháp luật có “sự tự phát triển đặc thù” của mình. Nhiệm vụ đặt ra ở đây là làm sáng tỏ vấn đề pháp luật từng đất nước, pháp luật từng quốc gia chịu sự tác động của pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế như thế nào? Theo chúng tôi trong thế kỷ XX sự tương quan của các nhân tố hình thành pháp luật đó đã thay đổi theo hướng khẳng định vai trò ngày càng lớn lên của nhân tố sau cùng, dù hai nhân tố đầu vẫn có được ý nghĩa ổn định.
    Từ cách đặt vấn đề như vậy chúng ta cần làm rõ vấn đề Nhà nước đóng vai trò như thế nào trong sự hình thành và phát triển pháp luật. Từ lâu mối liên hệ hữu cơ giữa Nhà nước và pháp luật đã được làm sáng tỏ. Khái quát lại có thể thấy vai trò của Nhà nước được thể hiện như sau:
    1- Chính Nhà nước có chủ quyền trong lĩnh vực pháp luật, chỉ có các cơ quan của Nhà nước mới có thẩm quyền ban hành luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác; 2- Nhà nước xác định nội dung quy phạm của pháp luật khi đó các lợi ích xã hội khác nhau được cụ thể hóa, được cân bằng thành các công thức đáp ứng các lợi ích của giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội, dân tộc, … và chúng trở thành bắt buộc chung; 3- Về mặt thực tế, Nhà nước xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật và quy định mục đích, trật tự và thủ tục của hoạt động xây dựng pháp luật trong đất nước, bảo vệ về mặt tư tưởng pháp luật của mình; 4- Nhà nước bảo đảm cho các luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác được hoạt động và bảo đảm pháp chế; 5- Nhà nước tiến hành và sử dụng các chế độ pháp lý đáp ứng lợi ích bên trong của đất nước và lợi ích của đất nước trên trường quốc tế – thực hiện các ưu đãi, chế độ thuế quan bảo hộ (chính sách bảo hộ mậu dịch) hay hạn chế ưu đãi hay không thực hiện chính sách bảo hộ mậu dịch; tiến hành xây dựng một hệ thống pháp luật “mở” hoặc một hệ thống pháp luật “đóng”; bảo vệ hệ thống pháp luật đó; 6- Nhà nước có thể chủ trương việc làm xích lại gần nhau các văn bản pháp luật quốc gia và mở rộng vùng ảnh hưởng của pháp luật quốc tế đối với hệ thống pháp luật của mình.
    Mối tương quan của pháp luật và Nhà nước bao giờ cũng mang tính lịch sử cụ thể đối với các quốc gia cùng chế độ và các quốc gia có chế độ chính trị khác nhau. Việc phân kiểu Nhà nước có ảnh hưởng đến hệ thống và tính chất của pháp luật quốc gia, đến khối lượng, phương pháp và nội dung của sự điều chỉnh pháp luật. Nếu lấy cơ cấu quyền lực và tính chất của mối quan hệ quyền lực làm cơ sở phân loại các Nhà nước, thì lúc đó có thể làm sáng tỏ một cách đúng đắn hơn “mức độ phát sinh” trong pháp luật với kiểu Nhà nước. Cơ cấu và chính sách của Nhà nước ảnh hưởng một cách cơ bản đến khối lượng và mức độ phản ánh các lợi ích xã hội khác nhau, mức độ tự do và tính độc lập của công dân, của các nhà doanh nghiệp, của báo chí, của các tổ chức xã hội trong pháp luật, ảnh hưởng đến các bảo đảm pháp luật. Khi so sánh các quan điểm pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật hay tiến hành hợp tác hội nhập trong lĩnh vực pháp luật cần phải cân nhắc vai trò của nhân tố Nhà nước một cách đầy đủ – đó là các vai trò tích cực hay không tích cực.
    1.3. Ngoài ra, ta còn thấy pháp luật là sản phẩm, là “sự sáng tạo của chính xã hội”. Các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, ý thức pháp luật là những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của pháp luật. Như mọi người đều thấy sự phát triển của các văn bản quy phạm pháp luật bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội được thay đổi; chịu sự ảnh hưởng của những cuộc cách mạng, của những cuộc cải cách, đổi mới; chịu sự ảnh hưởng của những thay đổi trong nền kinh tế và trong quản lý Nhà nước, của những thay đổi trong cơ chế quyền lực, của những thay đổi trong ý thức xã hội và hành vi của con người. Chính những nhân tố đó là những “xung lượng” hình thành pháp luật và chúng thường xuyên xuất phát từ xã hội. Có thể lấy những thay đổi trong hệ thống pháp luật ở nước ta trong thời gian qua làm ví dụ. Đó là nhu cầu đổi mới trong lĩnh vực kinh tế quyết định sự cần thiết ban hành một loạt văn bản luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, thiết lập chế độ sở hữu đa thành phần, quy chế pháp lý mới của các chủ thể kinh doanh, điều chỉnh các quan hệ tài chính – tín dụng và các quan hệ về thuế.
    Tiếp đến chúng ta cần làm rõ các nhân tố khác nhau có ảnh hưởng như thế nào đến pháp luật. Ở đây, theo lôgich của chủ nghĩa duy vật lịch sử chúng ta đặt lên hàng đầu vai trò của các quy luật khách quan – các quy luật mà nhà làm luật cần phải nhận thức và “nắm bắt”. Nhận thức và phản ảnh các quy luật khách quan được coi là cơ sở khách quan đầu tiên của hoạt động xây dựng pháp luật. Các nhu cầu xã hội đòi hỏi phải được thỏa mãn với sự hỗ trợ của pháp luật thông thường được tiếp nhận dưới dạng khái quát. Các quan hệ thuộc hạ tầng cơ sở, các quan hệ sản xuất bao giờ cũng được coi là cái đóng vai trò quyết định, do vậy, trong nhiều trường hợp dẫn đến việc không đánh giá hết các biểu hiện của nhân tố chủ quan trong hoạt động xây dựng pháp luật. Lý luận về các nhân tố không được tiếp nhận tích cực.
    Thời gian gần đây, trong khoa học pháp lý đã có thái độ tích cực hơn đối với lý luận về các nhân tố. Xã hội học pháp luật đã mở ra con đường cho việc phân tích và đánh giá một cách xác thực và cởi mở các quá trình và hiện tượng ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Người ta xem xét hoạt động của pháp luật như một hệ thống xã hội nhiều nhân tố, trong đó các nhân tố khác nhau được liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Ở đây có một bước tiến mới trong nhận thức là coi quá trình xây dựng pháp luật như một quá trình có định hướng mục đích được lập luận vững chắc. Trong quá trình đó các nhân tố khách quan và các nhân tố chính trị – xã hội được làm rõ.
    Trong các công trình nghiên cứu những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã dành sự chú ý đến việc làm sáng tỏ các nhân tố cơ bản quyết định sự hình thành pháp luật. Đó là các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, dân tộc, tư tưởng, những nhân tố phi chính trị. Khía cạnh nhận thức thông tin cũng được làm rõ.
    Ở đây, cần phải lưu ý và nhấn mạnh rằng hoàn cảnh chung trong đất nước có tác động đến tính ổn định của các văn bản quy phạm pháp luật. Đó là tính vững mạnh của quyền lực (ổn định về chính trị), sự tăng trưởng kinh tế vững chắc, sự ổn định về mặt xã hội, là hệ thống pháp luật phát triển và không có các mâu thuẫn giữa các ngành và chế định của nó, là việc thừa nhận pháp luật như công cụ để giải quyết các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và các nhiệm vụ khác, là uy tín cao của pháp luật và việc thừa nhận trên thực tế tính tối cao của luật, là sự tuân thủ nghiêm chỉnh, thường xuyên các nguyên tắc và quy phạm pháp luật.
    Việc phân loại các nhân tố dựa vào tính chất ảnh hưởng của chúng cho phép chúng ta làm sáng tỏ được các nhân tố ở bên ngoài hệ thống pháp luật. Việc nghiên cứu các quá trình đang diễn ra trong đời sống xã hội và các khuynh hướng của chúng đưa ra cơ sở để chúng ta nắm bắt kịp thời nhu cầu tiến hành “những thay đổi pháp luật”. Nhiều trong số các nhân tố đó có ý nghĩa là các nhân tố hình thành pháp luật, vì trong các nhân tố đó sản sinh ra khách thể của sự điều chỉnh pháp luật tương lai. Cần lưu ý đến các đặc điểm về thời gian tồn tại của các nhân tố. Có một số nhân tố tồn tại một cách thường xuyên, vững chắc, đó là nhân tố về chế độ chính trị và định hướng chính trị, quyền lực, chế độ kinh tế, thái độ của dân cư và của chính quyền đối với pháp luật… có một số nhân tố tồn tại không lâu.
    1.4. Tiếp đến chúng ta làm rõ vai trò của nhân tố “tự phát triển” của pháp luật với tính cách là một hiện tượng xã hội có tính độc lập và ổn định đặc thù.
    Các nhân tố đó thể hiện nguyên tắc đặc trưng cho hệ thống pháp luật, các mục đích của hoạt động xây dựng pháp luật, của việc xây dựng và hoạt động của hệ thống pháp luật, các mối liên hệ và sự phụ thuộc bên trong của hệ thống đó, “lôgich” xây dựng và phát triển của các ngành luật, các tiểu ngành luật, của toàn bộ hệ thống pháp luật nói chung. Việc coi thường hoặc sử dụng không đúng các nhân tố đặc trưng bên trong của hệ thống pháp luật viện cớ vì các nhân tố khách quan này hay các nhân tố khách quan khác sẽ làm cho hệ thống pháp luật có sự mâu thuẫn bên trong và không có trật tự về cấu trúc.
    Có thể coi là các nhân tố bên trong của pháp luật cả những nhân tố mang tính chất thủ tục. Một số nhân tố được thể hiện ở giai đoạn tiền chuẩn bị, chuẩn bị và thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Các nhân tố đó là sự lựa chọn các phương tiện đảm bảo về mặt pháp luật đối với các cuộc cải cách, áp lực của dư luận xã hội, sự ảnh hưởng của quá trình dân chủ hóa. Các nhân tố khác thể hiện ở giai đoạn thực hiện pháp luật. Đó là sự hiểu biết pháp luật của nhân dân, sự ủng hộ hoặc không ủng hộ đối với các văn bản quy phạm pháp luật, các quan điểm chống đối pháp luật, việc không chấp hành pháp luật của những người có chức vụ, quyền hạn, của công dân, việc làm sáng tỏ mục đích của các văn bản quy phạm pháp luật, việc áp dụng đúng đắn các văn bản đó. Việc phân ra các nhân tố nói trên và xác định trọng lượng hiện thực của nó ở từng giai đoạn là cơ sở để lập luận tính khoa học của các văn bản quy phạm pháp luật và là điều kiện bảo đảm hiệu quả của chúng.
    Tiếp đến cũng cần phải cân nhắc cả những biểu hiện của nhân tố chủ quan trong quá trình xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luật. Ở đây chúng tôi muốn nói về hoạt động của các chủ thể có quyền sáng kiến lập pháp, về áp lực của dân cư và các mong đợi về mặt pháp luật của họ…
    Pháp luật là cơ sở tồn tại của mọi xã hội và của Nhà nước. Tuy vậy, vẫn còn vấn đề đặt ra là ở mức độ nào pháp luật nói chung và các văn bản quy phạm pháp luật nói riêng chịu sự ảnh hưởng của những thay đổi trong đời sống xã hội – pháp luật, bị thay đổi một cách tự động do có những thay đổi trong Nhà nước hay theo những quy luật riêng của mình; cần phải xây dựng một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hoàn toàn mới hay cho phép có sự kế thừa của nguyên tắc và của các ngành luật của hệ thống pháp luật; các cuộc cải cách, đổi mới được tiến hành có dẫn đến việc xây dựng lại một cách cơ bản hệ thống quy phạm pháp luật hay không, hay các cải cách, đổi mới đó bao gồm những thay đổi trong nhận thức về pháp luật, trong ý thức pháp luật và trong tính động cơ, trong các cơ quan pháp luật. Mỗi nước có cách trả lời riêng của mình về vấn đề đó.
    Một vấn đề được đặt ra hiện nay là các quốc gia có phản ứng như thế nào đối với những thay đổi liên tục đang diễn ra trên thế giới, bao gồm cả “lát cắt” pháp luật trong sự phát triển của thế giới. Nhưng tất cả những cái đó không phải diễn ra một cách tự phát, ở bên ngoài sự tham gia của các chủ thể là Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, các cơ quan pháp luật.
    Trong nhận thức về pháp luật có thể phân ra các ranh giới khác nhau của pháp luật với tư cách là một hiện tượng xã hội phức tạp. Trong phạm vi nghiên cứu ở đây, dựa vào mức độ của sự hình thành theo cấu trúc, chúng ta có thể phân các bộ phận “cấu thành pháp luật” như sau: 1- Các họ pháp luật với tư cách là các nhóm thế giới quan về pháp luật bao gồm: nguồn gốc của pháp luật, các học thuyết pháp luật, lý luận xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, giải thích pháp luật, các nghề luật của mình; 2- Các hệ thống pháp luật quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia, các văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia nước ngoài với tư cách là các cấu thành có trật tự cơ cấu; 3- Các ngành pháp luật với nhóm các quy phạm pháp luật cùng loại được hình thành một cách có thứ bậc; 4- Các vùng pháp luật của các quốc gia liên minh; 5- Pháp luật quốc tế với các nguyên tắc và các quy phạm của mình. Tương ứng người ta cũng phân biệt các khái niệm phản ánh các hiện tượng đó.
    Để phác họa ranh giới hoạt động của các cấu thành pháp luật – quy phạm khác nhau và các chế độ pháp lý do các cấu thành đó thiết lập cần sử dụng các khái niệm sau:
    1- Đối với các họ pháp luật nên dùng khái niệm “các vùng ảnh hưởng pháp luật”; 2- Đối với các vùng pháp luật của các quốc gia liên minh nên dùng khái niệm “không gian pháp luật”; 3- Đối với các hệ thống pháp luật trong phạm vi một quốc gia nên dùng khái niệm “lãnh thổ pháp lý – quốc gia”. Từng loại chế độ pháp lý đó có sử dụng sự phối hợp và hợp tác khác nhau về các văn bản quy phạm pháp luật, các hiệp định, về các phương thức điều chỉnh pháp luật – “mềm dẻo”, “hỗn hợp”, “chặt chẽ”, “phối hợp” v.v….
    Tất cả các cấu thành pháp lý quy phạm nói trên phát triển không phải biệt lập. Ngược lại chúng có ảnh hưởng đến nhau. Các quan điểm pháp luật, thực tiễn xây dựng và áp dụng pháp luật ở các nước cụ thể ở từng giai đoạn riêng biệt có thể chịu sự ảnh hưởng rất mạnh của các họ pháp luật, của các cộng đồng pháp luật của các quốc gia liên minh, của các yếu tố cụ thể của các họ pháp luật và cộng đồng pháp luật đó, chẳng hạn yếu tố đạo đức – tôn giáo.
    Việc phân tích trên cho thấy bức tranh pháp luật của thế giới là rất nhiều màu sắc, mang tính pha lẫn. Như vậy tính đa pháp luật vẫn luôn luôn tồn tại bởi có những nguyên nhân lịch sử – xã hội sâu sắc. Cùng với Nhà nước, pháp luật tạo điều kiện cho sự phát triển của các xã hội và của cộng đồng thế giới khi nó trao đổi các nguyên tắc, các ưu tiên, các hình thức quy phạm, mối tương quan của mình với các chế định, thiết chế Nhà nước và xã hội. Những gì vững chắc nhất, ổn định nhất đặc trưng cho pháp luật như một hiện tượng của đời sống xã hội bao giờ cũng được giữ gìn.
    Chúng tôi cho rằng có thể và cần phải nghiên cứu và so sánh các hệ thống pháp luật khác nhau trong sự vận động của chúng để phục vụ cho nhu cầu hợp tác trong lĩnh vực pháp luật không chỉ vì tính ổn định và kế thừa, của sự tự phát triển của pháp luật, mà còn phải cân nhắc và phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, địa lý, nhân chủng học. Chính sự kết hợp các quy luật cơ bản có chiều sâu đó cho phép chúng ta cân bằng, tìm được “điểm chung” trong cách tiếp cận đến các hệ thống pháp luật và đánh giá chúng.
    Hiện nay, đầu thế kỷ XXI với cơ cấu nhiều mức độ của xã hội và đời sống năng động của con người, hợp tác trong lĩnh vực pháp luật tạo điều kiện cho việc làm phong phú thêm nền văn hóa của các dân tộc và của các công dân ở các nước khác nhau. Các tư tưởng pháp luật và các văn bản quy phạm pháp luật được mở ra đối với mọi người dễ dàng bước qua các giới hạn và làm cho các dân tộc xích lại gần nhau. Hợp tác trong lĩnh vực pháp luật bảo vệ một cách vững chắc các giá trị, các chế định, các nguyên tắc pháp luật của quá khứ.
    2. Khuynh hướng phát triển chung của pháp luật trên thế giới – cơ sở của sự hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật:
    2.1. Trong thời gian gần đây, do những nguyên nhân khác nhau, các nhà chính trị, các nhà quản lý, những người nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật ngày càng chú trọng nhiều hơn đến các quá trình phát triển chung của pháp luật trên thế giới. Nghiên cứu và nhận thức các quá trình đó và các khuynh hướng mâu thuẫn đặc trưng cho các quá trình đó trở thành nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng về nhiều mặt đối với tất cả các nước và toàn bộ cộng đồng thế giới. Việc phân tích một cách khách quan các quá trình và khuynh hướng đó tạo cơ sở cho việc đánh giá một cách đúng đắn mức độ kết hợp của cái chung và cái đặc thù trong sự phát triển chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ, văn hóa – xã hội, sinh thái của các nước và các vùng và mức độ tương ứng trong “sự khác biệt về pháp luật” và mức độ của “sự liên kết pháp luật”. Trên cơ sở đó hình thành chính sách pháp luật về so sánh và đối chiếu, về tiếp nhận và không tiếp nhận, về việc xích lại gần nhau, về tương thích và thống nhất hóa. Đó là một trong những nội dung quan trọng của hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật.
    Việc phát hiện và làm sáng tỏ các quy luật và khuynh hướng chung của sự phát triển pháp luật có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng đối với quá trình hợp tác và hội nhập trong lĩnh vực pháp luật. Bởi lẽ các quy luật và khuynh hướng đó làm cơ sở cho chúng ta xác định phạm vi và khối lượng so sánh các hệ thống pháp luật, xác định mức độ ảnh hưởng lẫn nhau của các hệ thống pháp luật và khả năng sử dụng các học thuyết và thực tiễn pháp lý của các nước. Việc phổ biến các quan điểm và khuynh hướng phát triển của pháp luật là những phương tiện năng động và có hiệu quả nhất để so sánh chúng và hưởng ứng, ủng hộ sự tồn tại của nhau.
    2.2. Trong thời đại ngày nay pháp luật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hợp tác và hội nhập. Bởi lẽ hiện nay khi mà giữa các quốc gia có mối liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế và cùng với quá trình mở rộng các quan hệ trong sự hợp tác lẫn nhau thì pháp luật thực hiện chức năng rất quan trọng là chức năng “liên kết ổn định”. Hoạt động của pháp luật trở thành toàn diện hơn xuất phát từ nhu cầu cần có nhiều quan điểm và quyết định pháp luật giống nhau và nhu cầu mở rộng lĩnh vực phát triển pháp luật giữa các quốc gia. “Lĩnh vực pháp luật chung” ngày càng được hình thành và được luật quốc tế bảo vệ. Trong điều kiện hiện nay luật quốc tế có mối liên hệ rất chặt chẽ với pháp luật quốc gia và cơ cấu của luật quốc tế ở chừng mức không nhỏ tùy thuộc vào những điểm chung trong các hệ thống pháp luật quốc gia. Lĩnh vực điều chỉnh pháp lý quốc tế được tăng lên rõ rệt nhờ có sự mở rộng các khách thể điều chỉnh pháp luật trong các quốc gia, không phải bằng cách tách ra mà bằng cách cùng phối hợp điều chỉnh. Và do vậy pháp luật quốc tế thể hiện như một đảm bảo, một tiêu chuẩn pháp lý chung đối với các hệ thống pháp luật quốc gia.
    Từ đây xuất hiện các nguyên tắc pháp lý mới: nguyên tắc đề cao các quy phạm chung của cộng đồng quốc tế; nguyên tắc đề cao các nguyên tắc và quy phạm đã được thừa nhận của luật quốc tế so với các quy phạm của pháp luật quốc gia; nguyên tắc bảo đảm trực tiếp việc bảo vệ bằng pháp lý quốc tế đối với các quyền và tự do của con người và công dân.
    2.3. Trong đời sống pháp lý quốc tế đã thừa nhận quy luật chung của sự phát triển pháp luật là sự thừa nhận chung tính tối cao (tối thượng) của pháp luật và của các luật. Sự ghi nhận nguyên tắc đó trong Hiến pháp của các quốc gia, việc bảo đảm nguyên tắc đó trong hệ thống pháp luật và việc thực hiện nhất quán nguyên tắc đó trong thực tiễn pháp lý tạo điều kiện để làm sáng tỏ cái gì được gọi là chung, là điểm tương đồng đặc trưng cho các hệ thống pháp luật khác nhau. Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nguyên tắc bảo đảm và bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân ngày càng được phổ biến rộng rãi. Sự thừa nhận chung của cộng đồng thế giới đối với nguyên tắc đó làm cho nó trở thành nguyên tắc nền tảng, cơ bản đối với pháp luật của các quốc gia. Các văn bản quy phạm pháp luật, các quyết định và hành động cụ thể ở các quốc gia đều được xây dựng và thực hiện trên cơ sở tuân thủ nguyên tắc đó.
    2.4. Trong thời đại ngày nay các nguyên tắc dân chủ chung của pháp luật vẫn mang tính thời sự và đầy sức sống. Pháp luật dường như được pha trộn ở mức độ toàn thế giới vào trong lễ phục dân chủ của mình như một tư tưởng, như một nguyên tắc, như một mệnh lệnh được thừa nhận. Do vậy: Việc bảo đảm tính kế thừa pháp luật ở nghĩa rộng lớn nhất trở thành một khuynh hướng chung trong sự phát triển của pháp luật.
    Từng quốc gia hoặc các nhóm quốc gia có thể xác định phương hướng phát triển pháp luật của mình một cách khác nhau. Nhưng sự phối hợp, sự tương thích và sự xích lại gần nhau của pháp luật quốc gia phản ánh phương hướng liên kết chung.
    2.5. Tất cả những điều trình bày trên làm cơ sở để chúng tôi đưa ra một số khuynh hướng phát triển chung của pháp luật. Các khuynh hướng này đặc trưng cho quá trình diễn biến không chỉ của các hệ thống pháp luật trong thế giới hiện đại mà còn đặc trưng cho sự hợp tác giữa các hệ thống pháp luật đó với nhau và với luật quốc tế. Các khuynh hướng phát triển chung của pháp luật có thể được phân thành năm nhóm như sau:
    - Nhóm thứ nhất, là các khuynh hướng phát triển chung của pháp luật thể hiện các quy luật ổn định ở phạm vi cộng đồng thế giới liên quan đến các giá trị pháp luật đã được thừa nhận chung.
    - Nhóm thứ hai, bao gồm các quá trình và khuynh hướng cùng loại nằm trong phạm vi của các họ pháp luật lớn với các nguồn thế giới quan và pháp lý chung của chúng.
    - Nhóm thứ ba, là các khuynh hướng phát triển pháp luật mang tính chất phối hợp chặt chẽ bên trong phạm vi của các quốc gia liên minh.
    - Nhóm thứ tư, bao gồm các khuynh hướng mang tính khu vực của sự hợp tác pháp luật của các quốc gia và của các quá trình xích lại gần nhau các hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của các quốc gia đó. Trong tương lai có khả năng sẽ xuất hiện các cấu thành pháp lý khu vực mới (các tổ chức khu vực mới) mang tính chất chung hoặc chuyên môn.
    - Nhóm thứ năm, phản ánh các khuynh hướng mang tính chất cục bộ hơn của sự phát triển pháp luật đa dạng liên quan đến việc phân hóa hoặc hình thành các quốc gia mới. Các khác biệt pháp luật được đánh giá như là những khác biệt bền vững và được quyết định bởi các đặc điểm của từng quốc gia và như là các khác biệt tạm thời cần được khắc phục hoặc như là các khác biệt ngày càng tăng lên do những nguyên nhân chính trị, kinh tế, sinh thái.
    Tất cả các khuynh hướng nói trên được biểu hiện với những cường độ khác nhau trong những phạm vi không giống nhau và làm cho chúng ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình phát triển của pháp luật.
    Tất cả những điều trình bày trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nhận thức và thực hiện quá trình hợp tác trong lĩnh vực pháp luật. Bởi lẽ quá trình hợp tác trong lĩnh vực pháp luật không thể và không chỉ được nhìn nhận từ khía cạnh thực định của các hệ thống pháp luật khác nhau mà còn và cơ bản phải nhìn nhận từ khía cạnh nhận thức luận và khía cạnh xã hội học rộng lớn của các hệ thống pháp luật đó. Nguồn gốc và thực chất của các hệ thống pháp luật khác nhau, các khuynh hướng chung và đặc thù của sự phát triển pháp luật quyết định mục tiêu, nhiệm vụ, phương thức, hình thức, khối lượng, tính chất và các giới hạn của sự hợp tác trong lĩnh vực pháp luật. Do vậy, không được bỏ qua việc nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và khuynh hướng pháp luật mang tính chất chung nhất trong sự phát triển của pháp luật mà ngược lại cần phải tập trung nghiên cứu chúng với tư cách là cơ sở hàng đầu của sự hợp tác trong lĩnh vực pháp luật.
    3. Sự khác biệt trong các hệ thống pháp luật và quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật:
    3.1. Sự phong phú và đa dạng của “thế giới pháp luật” là một trong những minh chứng rõ ràng về giá trị tiềm năng của cộng đồng thế giới. Mỗi đất nước đã tích lũy, bảo vệ và làm phong phú các quan điểm pháp luật, các truyền thống văn hóa pháp luật, các chế định pháp lý đặc trưng của mình. Nói cách khác, từng dân tộc, từng quốc gia có “tấm danh thiếp” pháp luật của mình. Trong quá trình hợp tác trong lĩnh vực pháp luật, các quốc gia tiến hành hợp tác cần phải biết đến “tấm danh thiếp” pháp luật đó của quốc gia mà mình hợp tác.
    Chúng tôi cho rằng để tiến hành hợp tác một cách có hiệu quả trong lĩnh vực pháp luật, các quốc gia hợp tác cần phải biết các khác biệt pháp luật và đặc điểm đặc thù trong hệ thống pháp luật của nhau.
    3.2. Trước hết, cần chú ý đến cái chung và cái đặc thù trong hệ thống các nguồn pháp luật, bởi lẽ cái đó phản ánh đặc điểm đặc trưng của các họ pháp luật. Ở đây có thể nói một cách khái quát các đặc điểm đó như sau:
    Thứ nhất, các họ pháp luật có các nguồn pháp luật chính giống nhau là Hiến pháp và các đạo luật; Thứ hai, trong các họ pháp luật giữa các nguồn pháp luật khác nhau có mối tương quan không giống nhau; Thứ ba; trong các họ pháp luật có các nguồn pháp luật đặc thù (án lệ ở Anh và ở các nước theo hệ thống pháp luật chung); Thứ tư, đặc điểm về sự ghi nhận quy phạm và sự khác biệt trong giá trị hiệu lực pháp lý của các nguồn pháp luật. Điều đó thể hiện ở chỗ ở các vùng và ở các nước Châu Âu điểm xuất phát của hệ thống pháp luật là tính tối cao của Hiến pháp và của đạo luật. Ở các nước khác quy phạm của tập quán pháp có hiệu lực pháp lý cao (ở Châu Phi). Ở nhóm nước thứ ba hiệu lực của các quy phạm của luật án lệ chiếm ưu thế (chẳng hạn ở Anh). Ở nhóm nước thứ tư các quy phạm đạo đức – tôn giáo là hạt nhân của quy phạm pháp luật (ở một số nước Trung Á). Tính bền vững của sự khác biệt như vậy được khẳng định bởi rất nhiều thế kỷ tồn tại của chúng và không dễ dàng khắc phục ngay cả trong điều kiện quá trình liên kết kinh tế, văn hóa, thông tin và sự xích lại gần nhau của các cơ sở pháp lý chung được phát triển mạnh mẽ.
    3.3. Do có sự khác biệt trong cấu trúc quy phạm của các hệ thống pháp luật, cho nên dẫn đến việc giải thích khái niệm và nội dung của chúng cũng không giống nhau. tiếp đến trong các hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau sự phân chia các ngành luật, các tiểu ngành luật cụ thể cũng không giống nhau.
    Sự khác biệt pháp lý giữa các quốc gia được thể hiện cả trong đặc điểm đặc trưng của các khái niệm, của các thuật ngữ. Nếu không làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm, thuật ngữ đó thì khó có thể nhận thức được bản chất của các hệ thống pháp luật, các mối liên hệ bên trong của chúng, sự hình thành cấu trúc của các quy phạm pháp luật.
    Khi tiến hành hợp tác trong lĩnh vực pháp luật cần chú ý đến việc nghiên cứu về ngôn ngữ quy phạm, văn phong pháp lý đặc trưng cho các họ pháp luật khác nhau và các hệ thống pháp luật của các nhóm hoặc các quốc gia cụ thể. Có cả các đặc trưng trong ngôn ngữ dân tộc, chế độ ngôn ngữ của dân tộc. Từ đây, các văn bản quy phạm pháp luật sẽ được thể hiện một cách ngắn gọn hay dài dòng, mang tính hình tượng hay tính chặt chẽ; các quy phạm được diễn đạt gọn hay quy phạm được phân thành các điều, các khoản. Không được coi thường hoặc xóa bỏ một cách nhân tạo các đặc điểm đó trong quá trình hợp tác, hội nhập pháp luật.
    Cấu trúc của các Hiến pháp, các bộ luật, các đạo luật cũng không giống nhau. Việc phân cấu trúc của các văn bản quy phạm pháp luật, các phương thức liên hệ của các phần cụ thể của một văn bản quy phạm pháp luật, sự viện dẫn bên trong và các điều luật của cùng một văn bản quy phạm pháp luật hoặc sự viện dẫn đến các điều luật khác, đến các văn bản khác có thể gây ra những khó khăn nhất định cho chúng ta khi làm quen và nghiên cứu các văn bản quy phạm pháp luật của các nước khác nhau để phục vụ cho quá trình hợp tác, hội nhập trong lĩnh vực pháp luật, tức là để đưa pháp luật nước ta hội nhập với pháp luật của các nước và ngược lại.
    3.4. Qua nghiên cứu cho thấy sự khác biệt pháp luật còn được thể hiện ở các phương pháp điều chỉnh pháp luật. Điều đó thể hiện ở chỗ để điều chỉnh các quan hệ xã hội cùng loại hoặc các khách thể giống nhau, ở các nước khác nhau lại sử dụng các phương pháp không giống nhau. Chẳng hạn, đối với việc thành lập pháp nhân có nơi áp dụng trật tự đăng ký, có nơi áp dụng trật tự cho phép, có nơi áp dụng trật tự thông báo. Trong một số nước nguyên tắc “cho phép làm tất cả những gì pháp luật không cấm” được áp dụng rộng rãi, trong một số nước khác nguyên tắc đó chỉ được áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh.
    3.5. Một trong những khác biệt pháp luật cơ bản được thể hiện ở các nguồn gốc tư tưởng, tôn giáo và thế giới quan khác nhau của pháp luật. Người ta gọi đó là sự khác biệt về thế giới quan pháp luật.
    3.6. Dưới dạng chung nhất đó là các khác biệt pháp luật của các quốc gia. Các khác biệt pháp luật đó phải được nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan và cụ thể trong quá trình hợp tác pháp luật. Không được có thái độ không khách quan, phê phán thái quá hoặc xem thường các khác biệt đó. Tất cả tài sản pháp luật của các quốc gia, của các dân tộc, cả những tài sản mang tính chất phổ biến lẫn những tài sản mang tính đặc thù đều phải được đưa vào kho tàng pháp luật chung của thế giới và phải được cân nhắc trong quá trình hợp tác, hội nhập pháp luật.
    Phần lớn các khác biệt pháp luật liên quan với các truyền thống và trình độ văn hóa pháp luật. Các quy tắc của kỹ thuật pháp lý và của việc xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ phản ánh các phương thức và yếu tố đặc thù của “kỹ thuật học pháp lý”, mà còn là bảo đảm quan trọng cho cả việc tiếp nhận mang tính thói quen về mặt xã hội và thái độ của mọi công dân đối với các quy tắc đó. Các đặc điểm về ngôn ngữ và văn hóa không thể không được cân nhắc đầy đủ trong quá trình hợp tác pháp luật. Các trường phái pháp luật, sự phụ thuộc đối với các họ và hệ thống pháp luật cũng ảnh hưởng đến sự phản ánh các đặc điểm đó.
    3.7. Trong quá trình mở rộng mối liên hệ pháp luật giữa các quốc gia, có một số khác biệt pháp luật trở thành khách thể của các cuộc tranh luận, của sự phân tích và cần phải tìm kiếm các phương thức để khắc phục dần dần.
    Trong quá trình hợp tác chúng ta cần phải có quan điểm phản ứng mềm dẻo đối với tất cả các khác biệt pháp luật nói trên. Cần phải làm sáng tỏ và thừa nhận tính quyết định của các khác biệt đó để trên cơ sở đó, chúng ta đánh giá các khác biệt pháp luật đó theo các nguồn gốc của chúng, theo các nguyên nhân lịch sử, theo mức độ vững chắc, ổn định và theo mức độ khắc phục chúng. Với việc cân nhắc các tiêu chuẩn nói trên có thể phân các khác biệt pháp luật giữa các quốc gia thành bốn dạng sau:
    1- Các khác biệt pháp luật mang tính vững chắc, bất biến (các khác biệt này phản ánh truyền thống lịch sử dân tộc v.v…);
    2- Các khác biệt pháp luật mang tính ổn định tương đối (các khác biệt này phản ánh sự lựa chọn các nguồn pháp luật và mối tương quan của các nguồn pháp luật);
    3- Các khác biệt pháp luật mang tính tạm thời về mặt lịch sử do các điều kiện của thời kỳ quá độ, đặc điểm trong trình độ phát triển kinh tế và xã hội đem lại;
    4- Các khác biệt pháp luật mang tính tình huống chính trị do phương hướng của các quốc gia và thẩm quyền của các quốc gia trong lĩnh vực pháp luật ở trong đất nước và ở nước ngoài đem lại.
    Như đã trình bày ở trên, tính đa dạng của pháp luật “sự khác biệt pháp luật” là một hiện tượng phức tạp. Khi tiến hành hợp tác pháp luật cần phải nghiên cứu và đánh giá hiện tượng đó một cách khách quan, cụ thể nhằm phục vụ cho sự phát triển pháp luật của từng quốc gia và sự liên kết, hội nhập pháp luật giữa các quốc gia.
    Việc xác định một cách đúng đắn, khách quan “mức độ khác biệt pháp luật” cho phép chúng ta so sánh mức độ đó với các lợi ích chung đang được thay đổi của một loại quốc gia trong lĩnh vực pháp luật. Xuất phát từ quan điểm vì lợi ích chung đó cần phải làm giảm sự khác biệt pháp luật. Và ở đây cần phải tìm ra các phương thức và biện pháp khắc phục dần dần sự khác biệt đó.
    <!--[if !supportEmptyParas]--> <!--[endif]-->

    Về Đầu Trang Go down
    Xem lý lịch thành viên http://www.vksndtc.gov.vn
     
    Hệ thống pháp luật trên thế giới!
    Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
    Trang 1 trong tổng số 1 trang

    Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
    CÂU LẠC BỘ LUẬT TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG CHỨNG KHOÁN - KHOA KINH TẾ - LUẬT - ĐHQG.TPHCM :: Banking - stock :: Giới thiệu ngành luật tài chính ngân hàng chứng khoán - Khoa kinh tế - Luật - Đại học quốc gia TP.HCM-
    Chuyển đến